Sign up

18 Feb, 2012

SẺ CHIA - thơ NGUYỄN ĐỨC HẢI

Viết bởi hatruc 08:45 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (2) | Trackback Trackbacks (0) | Edit | THƠ

 

NGUYỄN ĐỨC HẢI

SẺ CHIA

 

Cô dạy em những bài toán cộng trừ

Em đã thuộc

Mà sao

Bây giờ em chỉ biết cộng

Những lợi ích

 

Cô cười thật tròn

Em làm rất đúng

Để ngày mai

Cô dạy em phép tính chia hai

 

Em đã thuộc

Nhưng mà chia cho ai?

Nụ cười của cô bỗng méo

Em cứ chia, cứ chia đi

Và đừng bao giờ hỏi

Chia cái gì

Và chia cho ai

Khi trong tay em

Có thứ có thể chia được

Cho người

 

NĐH

13 Feb, 2012

NHỚ- thơ NGUYỄN ĐỨC HẢI

  

NGUYỄN ĐỨC HẢI

NHỚ

 

Một cánh cò con lạc bầy chấp chới

Giữa trời

Giữa dòng đời

Những con người xa lạ

 

Xa mẹ rồi

Mây đầy trời

Ngổn ngang trăm mối

Lỡ mưa rơi

Lạc lối

Trời chiều

Ôi hoàng hôn

Ta giận biết bao nhiêu

Chấn động lòng ta

Nỗi nhớ vỡ òa

  

NĐH

 

 

 

5 Feb, 2012

NGÀY LY BIỆT QUA RỒI - thơ NGUYỄN ĐỨC HẢI

Viết bởi hatruc 16:47 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Edit | THƠ

NGUYỄN ĐỨC HẢI

NGÀY LY BIỆT QUA RỒI

 

        Chợt nhớ hai bảy năm một ngày rơi nước mắt

        Ngày ấy xúm quanh chiếc quan tài

        Anh em đưa cha về với mẹ

        Nơi vĩnh hằng

Rồi mỗi người mỗi ngả

 

Đất nào dung mạnh ai nấy dừng

Trước mặt ai cũng hai bàn tay không

Và sau lưng

Sau lưng không một đồng làm vốn

 

Qua biết bao mùa mưa nắng

Trời đất ngả ngiêng mưa gió phập phùng

Hai bàn tay mãi chơi vơi

Chân lặn lội như cò như vạc

 

Anh em bao năm lưu lạc

Hôm nay đoàn tụ một mái nhà

Người nhắc tới mẹ

Người kể chuyện cha

Người gặp anh mừng không kể xiết

Mênh mang

Mênh mang và da diết

          Tất cả đã qua rồi

Trời bỗng ấm nắng tươi.

Ly biệt qua rồi

Anh ơi

Em ơi

Đoàn tụ…

 

NĐH

3 Feb, 2012

MƠ- thơ NGUYỄN ĐỨC HẢI

Viết bởi hatruc 11:00 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Edit | THƠ

         

          NGUYỄN ĐỨC HẢI

 

                  

 

          Chợt nhớ ra đã trăm năm không gặp

          Cỏ héo khô nấm mộ cũng hoang tàn

          Em hiển hiện em thật đoan trang

          Giọt lệ buồn còn vương trên mắt

         

          Anh giơ tay gió thổi hiu hắt

          Ôm hư không ôm trọn đau buồn

          Em giang tay mà nước mắt tuôn

          Người chơi vơi đôi tay gầy chới với

 

          Trăng đã rơi xuống núi

          Trăng chìm dưới sương mờ

          Hàng cây xanh xót xa

          Lá rơi bao lần nữa.

 

NĐH

 

 

 

 

 

31 Jan, 2012

LẤY GÌ TĂNG EM - thơ NGUYỄN ĐƯ`C HẢI ( Được đăng trên phongdiep.net)

Từ trước đến nay, tôi nghĩ thơ là cái gì mà người ta không với tới được. Nhưng rồi có những ngày buồn và cô đơn quá, tôi viết. Rồi đọc mạng, tôi gặp Phongdiep.net. Tôi thử liều, gửi thơ đi. Hôm sau tôi thấy nhửng gì tôi gửi đã được phongdiep.net tải lên. Vui quá, tôi dã có giấy thông hành cho công việc mà tôi chưa biết sẽ ra sao. Mặc kệ, chí ít được an ủi đã. Chân thành cảm ơn phongdiep.net đã giúp tôi…

 

NGUYỄN ĐỨC HẢI

 

LẤY GÌ TẶNG EM

 

          Nỗi buồn tặng em

          Anh chắt từ trong tim

          Từ sâu thẳm, từ trong tiềm thức

          Và hơi ấm còn trong lồng ngực

          Mai lạnh đi rồi

          Biết lấy gì tặng em.

 

 

                   CHỜ

 

          Chờ em bên gốc keo già

          Tựa vai tìm giấc ngủ trưa

          Mơ một cơn gió lạ

          Nhè nhẹ tà áo đong đưa.

         

 

                   ÉP XUÂN

 

          Cành đào cố trở nên xuân sắc

          He hé vài bông lực đã tàn

          Tham lam ai cố cho vào chậu

          Không cố được xuân

          Thầm thở than.

 

          NĐH

 

28 Jan, 2012

CHỜ- thơ của NGUYỄN ĐỨC HẢI

Viết bởi hatruc 16:41 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Edit | THƠ

NGUYỄN ĐỨC HẢI

 

CHỜ

 

          Chờ em bên gốc keo già

          Tựa vai tìm giấc ngủ trưa

          Mơ một cơn gió lạ

          Nhè nhẹ tà áo đong đưa.

 

NĐH

27 Jan, 2012

TẶNG EM =- thơ NGUYỄN ĐỨC HẢI

          Bắt đầu từ hôm nay, được phép của nhà văn Nguyễn Đức Thiện, tôi sử dụng Blogs này để gia nhập trang blogs chung. Rất mong được bạn bè khắp nơi cùng chia sẻ những sáng tác của tôi.

                  

NGUYỄN ĐỨC HẢI

 

TẶNG EM

 

          Nỗi buồn tặng em

          Anh chắt từ trong tim

          Từ sâu thẳm, từ trong tiềm thức

          Và hơi ấm còn trong lồng ngực

          Mai lạnh đi rồi

          Biết lấy gì tặng em.

 

NĐH

25 Oct, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo)

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

 

 

 

 

 

 

 

 

VII

 

            Nửa đêm, không thấy vợ về, Hai Cu bắt đầu bực bội: Đ. má con đĩ ngựa này, hôm nay, về không táng cho mày một trận ông không làm người. Nhưng từ lúc buông câu chửi đó xong, Hai Cu không còn ngủ được nữa. Sống với nhau đã được mấy năm, Hai Cu không lạ gì tính vợ. Con bé chỉ cần có chuyện đó và những bữa cơm ngon thôi. Ngoài ra, nó không bao giờ làm phiền gì đến Hai Cu. Cả những lúc Hai Cu hằn học chửi bới nó cũng chỉ đối đáp qua loa rồi thôi. Hai Cu nhiều khi cũng chán con bé lắm rồi, nhưng lại không nỡ bỏ. Nhờ nó mà Hai Cu mới có cái gọi là gia đình. Tính nay mai cuộc sống mà khá hơn chút ít nữa nếu nó thích thì cho nó đi lấy thằng chồng khác. Gần làng gần xóm riết rồi nó cũng biết rằng chuyện hai đứa nó ăn ở với nhau như thế là không đúng với luật pháp hiện nay. Thế nào cũng phải có cái đăng ký kết hôn mới nên vợ nên chồng. Người  ta sống phải có những cái giấy, mới được công nhận là người của xã hội. Còn sống như hai đứa chẳng ai người ta bảo là vợ chồng cả. Nhất là ngần nấy năm trời vẫn không sinh nổi lấy một mụn con. Gà eo óc gáy đến lần thứ ba. Gần sáng rồi, mà sao nó vẫn không về. Thế này thì tức chết đi được. Hai Cu mở cửa chạy sang nhà lão thày bói.

            -Chú Ba ơi. Chú Ba…

            - Có chuyện gì thế cậu Hai

            Tiếng lão thày bói trong nhà hỏi vọng ra. Sau đó là tiếng mở cửa lịch kịch.

            - Con vợ cháu nó đi suốt từ tối đến giờ vẫn không thấy nó về. Không biết giờ nó ở đâu?

            - Lúc tối hai đứa có cãi lộn không?

            - Dạ không.

            Vợ lão thày bói bước ra. Trên tay chị là cây đèn chong. Chị nói với  Hai Cu:

            - Không ai làm chồng như chú. Sao mà để chuyện ấy kéo dài hoài à…

            Có nghĩa là chị đã biết chuyện vợ chồng Hai Cu rồi, nhưng vì thấy Hai Cu chẳng có ý kiến gì nên chị cũng thôi. Nay thế nào cũng thành lớn chuyện rồi. Chị nghĩ có lẽ đã đến lúc cặp trai gái kia rù quến nhau bỏ xứ ra đi rồi. Chị hỏi:

            - Chú coi đồ đoàn của cô ấy trong nhà còn không…

            - Nhà có gì đâu chị. Nó cũng chỉ có vài bộ đồ thôi hè. Khi hồi em có coi rồi, còn nguyên.

            Vợ lão thày bói đã có cái bụng lùm lùm. Không ai biết rằng chị bây giờ vui đến như thế nào. Nhiều khi cũng phải nghĩ ngợi. Lão thày bói đã vào cái tuổi khá cao. Cảnh nhà thì nghèo. Con cái vào biết bao nhiêu cái khổ. Nhưng nghĩ đi thì vậy, nghĩ lại thì lại thương. Sống gần lão mới thấy lão là người tốt bụng. Hình như trên đời này lão chẳng thù ghét một ai. Có lần cô có hỏi về chuyện đôi mắt của lão. Lão lặng lẽ một hồi rồi mới trả lời:

            - Trước khi chết thế nào tôi cũng kể cho em nghe. Còn bây giờ em đừng hỏi gì hết. Đừng làm tôi lại phải nghĩ đến người đã làm tôi ra nông nỗi này.

            Tức là lão có những chuyện buồn, rất buồn nữa kìa. Nhưng hình như lão xua đuổi được nỗi buồn của mình đi.

            - Thực tình tôi chẳng muốn làm cái nghề bói toán này đâu em à- lão nói tiếp trong cái lần cô hỏi về đôi mắt. – Nó giống như đang lừa dối người ta ấy. Tôi có biết gì về tướng số đâu. Nhưng tôi cứ nghiệm đời tôi mà nói chuyện với những người đến xem bói. Ở hiền thì gặp lành. Ở ác thì gặp ác. Thế thôi. Tôi không tin người tốt ở trên đời này hết rồi. Tôi cũng tin là mình sẽ không phải sống khổ như thế này đến hết đời đâu. Tôi muốn em có con với tôi không phải vì cái chuyện nối dõi. Mà tôi chỉ lo, lỡ tôi chết trước, em cô đơn thui thủi một mình. Có đứa con nó sẽ giúp em khuây khoả cuộc đời. Tôi thương em vì biết em là một người chung tình. Tôi như thế này mà em vẫn theo tôi. Với tôi, em là người đẹp nhất trên trần gian này. Tôi nhận ra những nét đẹp của em qua bàn tay này của tôi. Má em đầy. Lông mày em đậm. Lông mi em cong. Hàm răng em đều. Bờ vai em tròn. Ngực em đầy … Không nhìn thấy em đâu, nhưng tôi thấy em rất rõ. Với một người như em thì không thể khổ suốt đời được. Anh còn biết một điều này nữa, em chỉ biết có một mình anh. Bây giờ và cả sau này. Anh chỉ khuyên em đừng như lần trước. Lỡ anh có chết trước thì em đừng có buồn như vậy. Đừng có làm những chuyện rồ dại như vậy. Cửa chùa đâu có dành cho em. Trong hỉ, nộ, ái, ố, em có không có nộ, không có ố . Chỉ có hai điều không thôi thì làm sao mà tu được. Em còn ái, còn hỉ. Hai điều ấy trong em mãnh liệt vô cùng. Em biết yêu trọn vẹn và vui trọn vẹn với tình yêu. Khi không còn anh, em hãy truyền tất cả những thứ em có ấy cho con của chúng mình. Như thế, em sẽ không bao giờ có những nỗi buồn dai dẳng.

            Đêm ấy lão thày bói đã nói với cô giống kiểu như nói với những người đến nhờ coi bói. Từng lời, từng lời một cứ thấm vào cô. Lão càng nói, cô càng thấm thía. Phải rồi, nếu quên được tất cả những giả dối, bon chen, nếu có thể quên được những hận thù, bực bội, nếu có thể quên được những nỗi buồn, thậm chí nếu quên được cả những bệnh tật bệnh trên con người mình, con người sống sẽ thanh thản hơn. Đêm ấy cô đã rúc đầu vào ngực lão mà ngủ một giấc thật ngon. Cánh tay lão thày bói làm chiếc gối thật êm cho cô. Vòng tay lão giống như một chiếc mền ấm và khuôn ngực lão như một chỗ dựa vững chắc cho cô.

            Sau đêm ấy, cô chuẩn bị sẵn sàng cho việc thụ thai. Bây giờ cái thai đã lớn. Cô sắp được làm mẹ. Trước đây mỗi lần có cảm giác có thai là cô bồi hồi hoảng sợ. Nhưng lần này, cái thai mỗi ngày mỗi khác khiến cô bồi hồi sung sướng. Cô có bao nhiêu lần tâm sự với đứa con đang lớn dần trong bụng mình. Cô hoạch định cho nó cả một tương lai. Cô mang tất cả tâm sự ấy nói với chồng và mỗi lần như thế, lão thày bói lại kéo sát cô vào mình và âu yếm hôn lên mái tóc cô thay cho mọi lời nói yêu thương.

            Hai nhà cách nhau có một khoảng trống mà có hai hoàn cảnh khác nhau. Nhà Hai Cu càng ngày càng lâm vào tình trạng tan đàn xẻ nghé. Cô biết mối quan hệ của vợ Hai Cu với gã trai làng. Trong làng Bàu Cày, chỗ nào người ta cũng bàn tán về chuyện đó. Người ta thương gã trai. Người ta trách vợ Hai Cu. Họ lôi cả cái quá khứ của vợ Hai Cu ra mà bàn tán. Họ nói xưng xưng rằng vợ Hai Cu làm điếm từ hồi mới mười ba, mười bốn tuổi. Một mụ Tú Bà ở thị xã đã lượm được nó từ lúc nó mới ba bốn tuổi. Mụ đã nuôi nó lớn lên. Mười ba tuổi mụ bán trinh của con bé cho một ông chủ tiệm vàng. Rồi sau đó, mụ đã bắt con bé mỗi ngày phải tiếp ít nhất là hai người khách. Chỉ cần có mỗi một nó đủ nuôi cả nhà mụ. Con bé sợ quá bỏ trốn mụ đi bụi đời. May sao gặp được Hai Cu mới mang nó trốn về đến tận đây mới thoát khỏi sự truy lùng của mụ Tú Bà kia. Vậy mà không biết ơn thằng chồng. Ngựa quen đường cũ mà. Ngứa quá, thằng chồng hom hem không giải quyết được nên mới đi tìm trai tơ. Cô vợ thày bói đã có lần ý tứ nói đôi lời với vợ Hai Cu. Cô ta không trả lời trả vốn gì. Có lần cô nói với Hai Cu;

            - Chú Hai coi thế nào chớ. Người trong làng họ nói nhiều chuyện quá rồi . Cùng hoàn cảnh, tôi thực không chịu nổi.

            - Thôi kệ nó chị ơi. Nó là con ngựa cái không cương mà chị. Một lần lỡ dại, dại cả đời. Bây giờ chỉ còn có mỗi một cách ai rước được nó đi thì rước cho rồi. Em mần gà tiễn nó liền…

            Chị chỉ còn biết ngán ngẩm lắc đầu.

            Còn hôm nay đã quá nửa đêm mà con bé vẫn chưa thấy bóng dáng đâu. Thấy Hai Cu ra vào không yên mới thấy hắn còn thương con bé nhiều lắm. Ac miệng thì nói vậy thôi chớ xem ra anh ta chẳng bụng dạ nào.

            - Thôi, chú về nghỉ đi . Để mai sớm xem thế nào.

            Chẳng cần để đến sớm mai , gần sáng đã thấy một dòng người chạy ra chỗ bãi hoang. Có đến cả chục ngọn đuốc chạy rất nhanh, lao tới. Vợ lão thày bói lay chồng:

            - Dậy, dậy anh ơi. Họ làm gì mà chạy ra ngoài mình quá trời đông kìa.

            Lão thày bói choàng dậy:

            - Lại chuyện gì nữa đây. Muốn sống yên cũng không yên được thực khổ.

            Bên kia, Hai Cu cũng thức dậy lo lắng nhìn đoàn người đang nhắm phía nhà mình lao tới. Chốc lát họ đã tụ lại ngay trước sân nhà Hai Cu. Có tiếng quát rất lớn:

            - Quân giết người. Bắt lấy nó.

            Hai ba anh du kích sáp lại bẻ ngược tay Hai Cu lại sau lấy dây trói ghị lại. Vợ lão thày bói chạy sang kêu lên:

            - Trời đất ơi , tội gì mà bắt người ta chớ.

            - Nó giết người.

            - Làm gì có. Các anh lầm rồi.

            - Lầm cái gì. Vợ nó hư thì nó giết mình vợ nó thôi chớ. Sao nó giết cả người ta nữa là sao?

            - Trời đất ơi. Không phải mà. Tôi biểu không phải mà.

            - Phải hay không ra ngoải rồi biết.

            Lão thày bói kêu vợ:

            - Em ơi. Chuyện đâu còn có đó. Em chạy theo xem có chuyện gì không, rồi mình làm chứng cho chú Hai sau…

            Đoàn người rồng rắn kéo đi. Hai Cu bị kẹp giữa hai người, bước đi không vững chỉ muốn vấp té. Anh ta không biết chuyện gì đã xẩy ra. Nhưng nghe hai chữ “ giết người” khiến anh kinh hoàng. Sao lại có chuyện giết người ở đây.

            Bắt đầu từ những con chó. Mùi máu tanh từ vết thương trên đầu của gã trai làng nhanh chóng bay xa. Những con chó trong làng đánh hơi thấy mùi lạ, thế là chúng lần theo. Ra đến chỗ hai xác chết, ban đầu chúng còn gầm gừ chạy xung quanh. Nhưng sau đó chúng lao vào tấn công hai cái xác. Chúng cạp miệng vào những cái xác và sủa váng rừng. Không biết vì sao chúng sủa. Vui mừng vì bỗng dưng có mồi, hay chúng giận dữ vì bỗng nhiên có hai kẻ loã lồ làm bẩn cái làng Bàu Cày này. Chúng vừa cạp hai các xác vừa cắn xé lẫn nhau. Những tiếng sủa dữ dội của bày chó khiến đội tuần tra của du kích trong làng chú ý. Họ lần tìm theo tiếng chó sủa. Gần sáng thì họ đến bên hai cái xác. Cảnh tượng lúc đó thực là khủng khiếp. Họ phải vác cây đánh đuổi lũ chó đi. Mấy người chạy về làng báo cho công an và chỉ huy du kích biết. Họ kêu thêm người và vác ra thêm mấy cái chiếu để đậy xác. Anh công an biệt phái nhanh chóng nhận ra một lỗ thủng trên đầu gã trai làng. Anh cũng nhận ra ngay những vết lằn trên cổ người đàn bà dưới ánh đèn pin. Đương nhiên là họ nhận ra đó là ai. Cả làng này biết hai người tằng tịu với nhau từ lâu. Cả làng này cũng biết Hai Cu biết vợ mình ngoại tình với gã trai làng. Vậy thì giết chết hai người trong lúc loã lồ này thì ngoài Hai Cu ra, không còn ai khác. Anh công an ra lệnh nhanh chóng:“Bắt khẩn cấp Hai Cu” . Chỉ có điều lạ là bộ đồ của người đàn bà thì còn. Còn bộ đồ của gã trai ở đâu? Thêm một cái lệnh nữa, lục soát nơi ở của Hai Cu để tìm tang vật. Cho nên, khi đoàn người rồng rắn lôi Hai Cu ra hiện trường thì số người còn lại lật tung nhà Hai Cu lên mong tìm được chút ít manh mối gì.

            Vợ lão thày bói theo đoàn người ra hiện trường. Ra đến nơi họ lật hai cái chiếu ra để Hai Cu nhận mặt. Hai Cu chết lặng thấy vợ mình chết nằm co quắp trên đất mà thân thể không còn một manh vải. Hai Cu chưa kịp định thần vì cái chết của vợ thì có tiếng gầm lên:

            - Mày giết con tao, thằng khốn nạn. Tao giết mày.

            Một người đàn ông lực lưỡng lao tới Hai Cu. Không có mấy anh du kích ngăn lại thì nhất định con dao trên tay người ấy đã phạt trúng người Hai Cu rồi. Phải hai ba người mới ôm được ông già lại. Thêm mấy người nữa vây lấy Hai Cu để bảo vệ cho anh ta. Sợ rằng không chỉ cha của nạn nhân đòi chém trả thù mà cả nhà ông ta sẽ lao tới thì lại thêm một lần nữa đổ máu. Họ nhanh chóng cử người ở lại bảo vệ hiện trường. Hai Cu được áp giải về trụ sở Ủy ban. Họ cởi trói cho anh ta và nhốt anh ta vào một căn phòng vốn là một cái kho để ba thứ tạp nhạp. Hai Cu không hiểu sao nào chiếu mệnh mà lại khổ sở như thế này. Con vợ lượm kia sao gì chiếu mà cũng bạc mệnh đến như thế. Hai Cu bỗng nhớ đến những ngày hai đứa hồn nhiên sống quanh những hố rác ở thị xã. Nhớ đến những mảnh bọc mủ hai đưa phơi trắng lốp một khúc bờ rạch Tây Nam. Nhớ những lúc hai đứa hau háu nhìn bà ve chai cân những từng bao bọc mủ và chia nhau những đồng tiền lẻ. Những khi leo núi Bà mang mang, vác vác chạy xuống thấy con bé đang chờ với những bó nhang trên tay. Bây giờ mà được sống những ngày ấy thì thích biết mấy. Nhưng làm gì còn những ngày ấy nữa. Con bé nằm đó co quắp dưới ánh sáng của ban mai chưa thực tỏ. Mặt nó phình ra. Dọc đường Hai Cu nghe phong phanh là nó bị xiết cổ. Mà ai xiết cổ nó chớ. Mà tại sao người ta lại nghĩ rằng Hai Cu giết vợ. Suốt một đêm trằn trọc mong nó bây giờ bị thế này đây. Hai Cu lắc những chiến chấn song cửa. Những chiếc chấn song bằng gỗ nhưng chắc chắn lắm chẳng thể bẻ mà trốn ra được. Mà việc gì phải trốn. Mình có giết nó đâu mà phải trốn.

            Chuyện hai người bị giết làm nhốn nháo cả làng. Họ bàn tán xôn xao. Họ biểu rằng, cái thằng Hai Cu trói gà không chặt kia làm sao một lúc hạ thủ được tới hai đứa. Nhưng có người lại nói nó đập chết thằng đàn ông trước rồi giết con nhỏ sau. Lại có người bàn gì chớ cái máu ghen là nó mạnh ghê lắm, có khi đến trời còn chẳng sợ nữa là. Lại có người nói như đinh đóng cột: không phải Hai Cu giết vợ. Con nhỏ vợ nó biết đâu chẳng làm đĩ từ hồi nào, bây giờ chúng dành con nhỏ mà giết nhau đó thôi. Chỗ này một kiểu nói. Chỗ kia một kiểu bàn. Gia đình gã trai làng kia, bị công an, du kích khống chế cũng không dám hùng hổ kiếm Hai Cu trả thù nữa. Thôi thì phải nhờ đến pháp luật.

            Chỉ có vợ chồng lão thày bói là biết chắc Hai Cu không thể giết vợ. Chập tối hắn còn qua đây trò chuyện. Nửa đêm còn qua đây phàn nàn về chuyện vợ không về nhà. Thời gian đâu mà nó thể làm cái việc tày đình kia. Lão thày bói dặn đi dặn lại vợ phải làm chứng cho Hai Cu. Tội nghiệp khi không thì mắc cái ách oan nghiệt này. 

            Chừng giữa buổi sáng thì công an trên huyện Cái Bưng xuống đến làng. Một cánh chạy xe ra tận chỗ hai cái xác để khám nghiệm tử thi. Còn hai người thì kêu Hai Cu lên phòng xét hỏi gấp. Những người khám nghiệm hiện trường và tử thi thực ngạc nhiên. Trên cổ tay của nạn nhân đàn ông rõ ràng có vết dây trói. Cái dây trói vẫn còn nguyên đó. Trên đầu có một vết lõm rất sâu, rất gọn. Lại không thấy quần áo trên người nạn nhân. Còn người đàn bà, rõ ràng có chuyện làm tình mà sao không  thấy có tinh khí. Trong khi đó quần áo lại ném lung tung xung quanh. Quần áo còn lành nguyên không có dấu vết của cuộc vật lộn cấu xé. Hung khí gây ra dấu vết trên đầu người đàn ông cũng thấy. Mà đánh bằng cái gì để dấu thương lại gọn gàng đến như vậy. Bằng búa? Gần hai giờ đồng hồ khám nghiệm chưa thể kết luận được điều gì, đành phải cho người mang hai cái xác về chôn. Người ta lượm đồ của người đàn bà, mặc vào cho cô. Họ khênh cô về ngôi nhà Hai Cu. Cũng là lúc Hai Cu được phép về nhà chôn vợ.

            Gần hai giờ hai anh công an làm cho Hai Cu nghẹt thở:

            - Anh cho biết họ tên.

            - Tôi không có họ tên, người làng gọi tôi là Hai Cu

            Hai anh công an bật cười vì cái tên ngộ nghĩnh này.

            - Còn tên vợ anh?

            - Cũng không có tên. Trước đây gọi nó là Gái. Bây giờ gọi theo tôi, vợ Hai Cu.

            - Quê quán?

            - Chúng tôi không có quê quán. Lớn lên biết nhau đã sống bụi đời trên thị xã Tây Nam rồi.

            - Anh chị cưới nhau hồi nào?

            - Không cưới xin gì. Ngủ với nhau rồi đưa nhau về đây sống.

            - Có con chưa?

            - Chưa…

            - Tối hôm qua anh làm gì, ở đâu?

            - Tôi ở nhà tôi. Ngoài bãi hoang, ngay cạnh miễu ông ăn mày. Lúc tối tôi còn ngồi nói chuyện với lão thày bói nhà kế bên.

            - Đến mấy giờ?

            - Không có đồng hồ làm gì biết mấy giờ. Chỉ biết đến lúc trăng lên thì tôi về ngủ.

            - Vợ anh lúc đó làm gì?

            - Tôi không biết. Lúc tôi sang nhà lão thày bói thì nó còn ở nhà. Lúc tôi về nó đã đi rồi?

            - Lúc đi cổ có nói với anh không?

            - Không. Lâu nay đi đâu, nó đâu có nói với tôi.

            - Này, sao anh cứ gọi vợ mình là nó thế?

            - Từ ngày về ở với nhau chúng tôi vẫn gọi nhau như hồi lang thang. Mày tao không hà…

            - Sau khi ở nhà lão thày bói về anh đi đâu. Làm gì?

            - Tôi về ngủ. Qua nửa đêm thấy nó không về tôi có sang lão thày bói.

            - Không có đồng hồ sao anh biết là qua nửa đêm?

            - Biết chớ sao không. Gà gáy dồn nè. Trăng muộn đã nhạt đi nè…Bọn tôi ngoài bãi hoang coi thời gian bằng tiếng gà gáy, tiếng chim rừng ăn đêm và nhờ trăng sao không hà.

            - Rồi sao nữa.

            - Tôi ngồi nói chuyện với vợ chồng lão thày bói một hồi rồi lại về nhà. Tôi sốt ruột không ngủ được. Tôi biết chập tối là nó hẹn hò với gã trai làng kia. Nhưng mọi khi chơi xong là nó về. Đằng này không thấy nó về, tôi nghĩ nó dụ thằng nhỏ trốn khỏi làng rồi…

            - Anh biết chuyện vợ anh có quan hệ với cậu kia?

            - Biết.

            - Sao anh không ngăn cản.

            - Ngăn sao được. Con vợ tôi có cũng đã từng sống bụi đời mà. Nó thích ăn đâu, ngủ đâu là chuyện của nó. Nó không thích tôi thì nó tìm thằng khác.

            - Không hiểu nổi anh nữa. Vợ con vậy mà vẫn sống chung?

            - Chúng tôi dựa vào nhau mà sống từ hồi còn sống lang thang kìa. Thành vợ, thành chồng chẳng qua vì tôi lỡ leo lên bụng nó. Nó sợ có chửa, bắt tôi phải nuôi nó. Bây giờ nó chán tôi, thì thôi nó lấy đứa khác, có sao đâu.

            Cũng trong thời gian đó có một anh công an đang nói chuyện với cha của nạn nhân. Đó là một người đàn ông giống với gã trai làng như tạc. Ông kể:

            - Thằng con tôi nó ngu lắm kìa. Khi nó quan hệ với con khốn nạn đó, cả nhà đã ngăn cản nó. Nó phải biết có nhỏ đó là thứ mèo mả gà đồng. Theo trai không cưới hỏi. Thế mà nó cứ bám lấy con nhỏ. Con nhỏ chỉ cần vẫy tay là nó đi. Đã có lần nó đòi lấy con nhỏ làm vợ. Tôi biểu nó: nó đang có chồng đó, làm sao lấy. Nó cãi: vợ chồng nó không muốn ở với nhau nữa rồi. Nó còn biểu: nếu muốn ngay ngày hôm sau nó có thể biểu con kia bỏ chồng ngay. Tôi đã chửi cho nó một chập mà nó có nghe tôi đâu. Nó cứ lén lút gặp con khốn nạn kia nên mới ra nông nỗi này. Các anh ơi , phải bắt cái thằng Hai Cu kia lên giá treo cổ tôi mới yên lòng.

            Anh công an phải khuyên:

            - Chuyện chưa thể kết luận được. Anh có bằng chứng gì mà nói Hai Cu là thủ phạm?

            - Còn bằng chứng gì nữa. Nó ghen, nó thù oán vợ nó và thằng con tôi…

            Hai Cu được dẫn về nhà có những anh công an trên huyện áp giải.

Hai Cu chỉ người làng đào cái huyệt ngay bên miễu thờ ông ăn mày. Hắn chẳng kịp chuẩn bị gì, tất cả nhờ làng giúp cho, nay mai trắng án thì về hắn trả, lỡ bị kết án oan mà phải đi tù khi về cũng trả nợ làng. Còn lỡ bị xử bắn thì xin làng miễn cho. Hai Cu đã nói ngần ấy lời với những người ra phụ giúp Hai Cu chôn vợ. Vợ chồng lão thày bói cũng đưa nhau ra giúp thêm cho Hai Cu. Nấm mộ đất vừa lấp đầy, hai người công an lại còng tay Hai Cu dẫn đi.

            Chiều ấy vẫn bị còng hai tay Hai Cu bị đưa lên công an huyện.

 

( Còn nữa)

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

15 Oct, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo)

 

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

 

 

 Trong đám trẻ bụi đời hồi đó vẫn coi hắn là thần tượng. Nhiều đứa ngang ngược muốn học hắn để thành cướp. Cướp được một lần ăn có khi hết đời. Nhưng lại ngán. Cướp của bao giờ cũng đi liền với giết người. Cướp của có thể dám. Chớ giết người đâu có phải ai cũng dám. Vợ Hai Cu không ngờ lại có thể gặp được một người khét tiếng trong một hoàn cảnh trớ trêu này. Gã có thể giết chết cả hai đứa giữa đồng không mông quạnh này nếu cãi lời gã. Gã trai làng bị trói giật cánh khỉ nằm bên cạnh cũng lặng câm vì sợ hãi.

 

*

*         *

 

            Gã đúng là Năm Sẹo thực. Đời gã có lẽ chưa bao giờ sui rủi như bây giờ. Ngày xưa, khi chưa giải phóng gã có trong tay một lũ đàn em hoành hành suốt dọc đường từ thị xã Tây Nam về Sài Gòn. Lũ đàn em ấy có đủ các ngón nghề, từ móc túi đến giật đồ. Từ mánh lới lừa đảo đến chặn đường cướp giật. Gã sai biểu được đàn em nhờ những ngón nghề và sự lỳ lợm.

            Lần đầu tiên hắn phải vào tù là hồi còn chưa giải phóng. Những vụ cướp tiệm vàng, cướp nhà hàng là chuyện bình thường đối với gã. Chuyện đối đầu với những băng nhóm khác mới làm cho lũ đàn em kính nể gã. Hồi đó việc bao các bến xe để làm ăn đã được phân vùng đàng hoàng. Bên Bà Quẹo là của cách Sài Gòn. Còn bến Tây Nam là của cánh Tây Nam. Cánh Sài Gòn được phép theo xe lên Tây Nam để bám khách kiếm ăn. Lên Tây Nam rồi về chớ không được làm ăn tiếp dọc từ Tây Nam đi Sài Gòn. Đàn anh, đàn em của cả hai bên nhẵn mặt nhau trên các chuyến xe. Ngoài chuyện rạch đồ, móc túi có thể theo con mồi đến tận những nơi có thể phải dùng đến dao, đến côn xích để lột da con mồi. Nhưng mồi của cánh nào cánh ấy giải quyết.  Còn cánh Tây Nam được theo khách xuống Sài gòn làm ăn tùy sức, nhưng từ Sài Gòn về là cấm không được hành động gì hết. Bỗng nhiên nảy nòi một thằng cầm đầu ở bến Sài gòn, tung đàn em lên lấn cả sân Tây Nam. Chuyện xẩy ra trên một chuyến xe từ Tây Nam về Sài Gòn. Đã rạch ròi, cánh Sài Gòn khi rời Tây Nam là chỉ được phép ngồi như khách quá giang thôi. Đằng này, hôm ấy đàn em của Năm Sẹo đã tăm được một con mồi khá bự. Ông khách ấy có một cái bóp khá dày dặn. Khi ông ta mua vé xe. Đàn em của Năm Sẹo đã thấy những xấp tiền xanh lòi ra. Mồi ấy chê thế nào được. Hai thằng đàn em của Năm Sẹo bám rất sát ông ta, ngay ở bến xe. Theo ông ta lên xe, hai đứa dựa thành ghế ngay sát ông ta. Cánh Sài Gòn cũng có hai thằng. Nhưng chúng làm đúng như quy ước ngồi nín thinh ở băng ghế đàng sau ông khách và kín đáo nháy mắt cười với cánh Tây Nam. Một nửa lưỡi lam đã kẹp vào giữa hai ngón tay của hai thằng cánh Tây Nam chỉ chờ ông khách đứng dậy là thằng cứa, thằng hứng là xong. Lâu lâu, hai thằng lại huých mạnh vào người ông ta. Nhất là ở những đoạn đường có những ổ gà. Kể cả khi xe dừng đón khách. Lợi dụng khách chen lên xe là chúng sáp lại ông khác, giống như người tử tế tránh đường cho khách tìm chỗ ngồi vậy. Nhưng ông khách là người cảnh giác. Ông cứ miết ở ghế, không xịch qua xích lại. Thời cơ chỉ đến có một lúc. Đó là xe dừng bánh ở bến Bà Quẹo. Khách tranh nhau đổ bến. Lúc hai thằng cánh Tây Nam toan hành động thì hai thằng cánh Sài Gòn bỗng đứng dậy, chen ông khách kia ra cửa. Hai thằng Tây Nam trố mắt nhìn hai thằng kia hốt gọn cái bóp của ông khách ngay trước mắt mình. Hai thằng nhảy xuống, chạy theo hai thằng kia. Ra khỏi bến, hai thằng Tây Nam kéo hai thằng kia lại:

            - Ê mày ở đâu, mày?

            - Ở Sài Gòn…

            - Tụi bay quên luật rồi hả?

            - Luật gì. Đ.má, ngon thì ăn, luật con cặc.

            - Ê, nói năng cho đàng hoàng mày.

            - Việc gì phải đàng hoàng với tụi mày. Đại ca tao biểu từ nay xóa luật lệ. Đ. má. Không việc gì phải chia chác. Gặp đâu bụp đó… Mày ngon gặp đại ca tao nói chuyện.

            - Sợ gì, mày đưa tao đi gặp đại ca mày xem mặt ngang mũi dọc sao?

            - Đừng hỗn mày. Đại ca tao đâu có cần gặp cái thứ hạng như mày. Cút mẹ mày về trển đi. Mà tao nhắc hai thằng mày nghe, đường lên Tây Nam là đường làm ăn của tụi tao. Tụi mày xớ rớ coi chừng nghe…

            Hai thằng ngậm ngùi về kể hết cho Năm Sẹo nghe. Năm Sẹo hỏi:

            - Tụi bay còn nhớ mặt hai thằng đó không?

            - Nhớ.

            - Lúc nào nó lên, bắt nó về cho tao nói chuyện phải quấy với nó.

            Hai bữa sau, hai thằng cánh Sài Gòn được “ mời “ đến gặp đại ca cánh Tây Nam:

            - Bữa trước đàn em tao xin được gặp đại ca mày. Còn hôm nay tao mời tụi bay. Nói, tại sao tụi bay ngang nhiên phá lệ là sao?

            Hai thằng cánh Sài Gòn kinh khiếp khi thấy mắt đại ca long lên sòng sọc. Hai con người như muốn bắn vọt ra ngoài.

            - Dạ thưa…

            - Con cặc. Tao không cần chúng mày dạ thưa. Nói…

            - Dạ chúng em không dám nói. Chúng em nói về đại ca giết chúng em …

            - Khỏi cần đại ca mày giết. Tao giết chúng bay trước, nếu tụi bay không nói…

            Đại ca cánh Tây Nam xòe tay. Đàn em của hắn đưa vào tay hắn một chiếc mã tấu được mài sáng quắc. Hắn vung tay. Lưỡi mã tấu chém ngọt một góc bàn trước mặt. Một miếng dăm bay lên, bắn trúng ngày vào mặt thằng cánh Sài Gòn. Nó la lên, hai tay bưng lấy mặt. Máu đổ tràn xuống qua kẽ tay.

            Thằng thứ hai quỳ xuống:

            - Để em nói. Để em nói. Đại ca em nói là…. Nói là…

            - Là sao. Đ. má sao ấp úng hoài vậy mày?

            - Dạ … đại ca em biểu: Trời đất này là của chung, chẳng việc gì phải phân chia gianh giới hết. Mạnh đứa nào đứa ấy chơi…

            - Thôi , được rồi. Đã vậy tao cho chúng mày về. Về biểu với đại ca mày, hai ngày nữa gặp nhau tại Suối An. Rõ chưa…

            - Suối An là chỗ nào, dạ thưa…

- Giáp gianh giữa Sài Gòn và Tây Nam. Hôm đó sẽ phân xử đàng hoàng.

Hai bữa sau, một trận chiến đã nổ ra giữa hai cánh giang hồ của Tây Nam và Sài Gòn ven con Suối An.

            Bọn đàn em cánh Tây Nam đến sớm hơn tới nửa ngày. Một nửa chiếc xe đò hôm đó dành chở lũ đàn em của Năm sẹo. Ngay cả như tay lái xe và lơ xe hôm đó cũng ngạc nhiên không hiểu vì sao bọn đầu trộm, đuôi cướp lại kéo nhau xuống Sài Gòn đông như thế.

            Khi cánh Sài gòn lên đến Suối An, trên một bãi cỏ khuất sau một cánh rừng chồi chỉ thấy một mình Năm sẹo ở đó. Đại ca cánh Sài Gòn, có một bề ngoài thật đáng kính nể. Mặt to bè. Hai vai to bè. Hai nắm tay to bè. Hai con mắt sùm sụp. Hàm răng cái nào cái nấy như bàn cuốc. Một hàng ria con kiếm phủ trên cặp môi thâm sì. Chiếc áo nửa như veston nửa như bà ba bỗng trở thành ngắn cũn cỡn vì cái bụng của gã đã phình ra. Năm Sẹo mà đứng bên hắn giống như con cào cào đậu trên thân cây chuối. Hắn hất hàm:

            - Ê. Mày muốn nói chuyện phải quấy phải không?

            Năm Sẹo không thèm nhìn hắn mà nhìn lên trời:

            - Mày biểu đất trời này là của chung phải không?

            - Phải.

            - Mày biểu mạnh ai nấy làm khỏi phân chia gianh giới phải không?

            - Phải. Thôi bít ngay cái miệng mày lại đi. Mày muốn gì?

            - Muốn ăn thịt mày…

            Năm Sẹo vừa nói vừa quay phắt lại, tung ngay một cú song phi. Chân phải đá trúng hạ bộ hắn. Chân trái táng ngay vào mạng mỡ. Năm Sẹo quay lưng, búng dò, chống hai tay bật người lên. Hai mũi bàn chân mổ ngay vào mặt thằng đại ca Sài Gòn. Dính ba đòn liên tục, gã đại ca kia ráng đứng lên xuống tấn. Nhưng gã chưa kịp đứng vững thì chân của Năm Sẹo đã quét một đường thực gọn trúng ngay khoeo chân của gã. Gã lại đổ sập xuống. Cánh đàn em của gã Sài Gòn ùa đến. Những lưỡi dao, những cây gậy vung lên. Từ phía sau của bọn chúng, cánh Tây Nam ùa tới. Cũng dao, cũng gậy. Cả bọn Sài Gòn trở tay không kịp. Chúng vừa quay lưng lại đỡ đòn thì hai ba thằng đã gục xuống. Thằng bị chém xả vai. Thằng bị gậy bổ vào lưng. Cánh Tây Nam mặc sức tung hoành. Những lưỡi mã tấu vụt xuống. Kệ mẹ nó, trúng đâu thì trúng. Những cây gậy quật xuống. Ngán cái chó gì. Đại ca đã biểu, nhiều lắm là vào ngồi tù. Quốc gia lo giữ ba thứ tù Cộng sản cũng đủ mệt rồi. Mấy thằng đầu trâu mặt ngựa có khi còn được trọng dụng để thay cai ngục coi sóc tù Cộng sản nữa kìa. Ban đầu cả bọn hùng hục đấu dao, đấu gậy. Đến khi máu chảy loang cả một bãi cỏ thì những tiếng la hét vang lên. Năm Sẹo tiếp tục trổ ngón nghề trên thân xác thằng hộ pháp kia. Thì ra hắn hù người ta bằng tấm thân cồng kềnh của hắn, chớ hắn chỉ là một cái bị thịt không hơn. Cú đá cuối cùng của Năm sẹo trúng vào bụng dưới của đối thủ. Hắn ôm bụng gồng lên, tiếng hắn khàn khàn:

            - Thôi thôi…

            Năm Sẹo búng tay cái tách, cánh đàn em rút tay dao tay gậy về, tập trung đứng sau lưng Năm Sẹo.

            Cánh Sài Gòn đứa ôm vai, đứa ôm tay cũng len lét tụ lại phía sau đại ca của chúng.

            Năm Sẹo đứng dạng chân :

            - Mày đứng dậy. Đứng ngay ngắn nghe tao nói đây. Mày có biết vì sao tao được gọi là Năm Sẹo không? Bay coi đây.

            Năm Sẹo lột phăng quần áo ra, đứng trần truồng trước đám đàn em của mình và của cánh Sài Gòn. Trên người hắn là cả một con rồng xanh. Ngay giữa ngực là cái đầu với cái miệng ngoác ra, những sợi râu lòng vòng vòng lan khắp ngực. Cả cái bụng là thân con rồng. Thân con rồng uốn quanh ra sau lưng gã. Con rồng đực. Hắn cho xăm bộ sinh dục của con rồng ngay bộ sinh dục của hắn. Của hắn thì xuội lơ. Còn của con rồng thì thẳng đứng.

            - Bay thấy chưa. Trên người tao ngoài con rồng này không có một vết sẹo nào hết. Vậy vì sao tao lại là Năm Sẹo. Vì sao hả. Vì tao đã lấy sẹo của năm đứa mà tao ghét nhất. Thằng thứ nhất dám ngủ với vợ tao. Tao cắt phăng con cặc của hắn, đó là sẹo thứ nhất. Thằng thứ hai là thằng đệ tử phản trắc, tao cắt lỗ mũi của nó. Đó là sẹo thứ hai. Thằng thứ ba là một thằng cảnh sát. Thằng này đểu, tao đã mua nó rồi mà nó vẫn rình bắt tao. Tao ở tù ba tháng. Ra tù, tao tìm gặp hắn. Tao chặt của nó ngón tay bóp cò súng. Đó là sẹo thứ ba. Sẹo thứ tư là của một con đàn bà. Nó dám lừa tao. Tao có thể cho phép nó ngoại tình, nhưng nó không được ăn chặn của tao. Mà ăn chặn của tao là ăn chặn của đàn em tao. Tao cắt của nó một bên vú. Còn vết sẹo thứ năm cũng là của một thằng đại ca giống như mày đó thằng mập. Huênh hoang, khoác lác coi trời bằng nửa con mắt. Tại chỗ này này, tao đã cắt cả hai tai nó. Đó là sẹo thứ năm. Hôm nay, chắc tao phải đổi tên quá. Sáu Sẹo, nghe cái tên này cũng hay hay…phải không bay

            Cánh Tây Nam dạ ran.

            Tiếng dạ làm cho thằng cầm đầu run như dẽ.

            Nó qùy xuống trước mặt Năm Sẹo:

            - Em có mắt như mù, xin đại ca tha cho em.

            Nó quay lại quát tụi đàn em:

            - Không thấy tao quỳ xuống rồi sao.

            Cả bọn kia răm rắp quỳ xuống. Một cảnh tượng thực nực cười. Một bọn mặt mày me bê bết máu, lưng còng xuống không dám nhìn lên. Thằng cầm đầu to lớn có dáng qùy rất vất vả. Cái bụng to qua cỡ của nó cứ đội lên, khiến nó không thể cúi gập mình xuống được. Trước mặt nó, Năm Sẹo vẫn trần truồng như nhộng. Hắn hỏi:

            - Mày muốn tao tha mày phải không?

            - Dạ, dạ, dạ, em xin đội ơn đại ca đến trọn đời…

            - Bú cặc tao trừ.

            - Dạ.

            - Đ. má. Dạ cái gì. Bú cặc tao, tao tha, còn không tao phải đổi tên…

            Gã mập lết hai đầu gối tiến về phía Nam Sẹo. Hắn ngước mắt lên vẻ van lơn. Nhưng Năm Sẹo không hề biến sắc mặt. Hắn chống hai tay lên hông, ưỡn người ra phía trước, mắt lạnh như tiền chờ đợi.

            Gã mập kia biết không thể không làm cái việc ô nhục kia. Gã đưa hai tay lên bợ lấy cái thứ kinh tởm kia. Bỗng nhiên lòng căn hận của gã bốc lên, gã xiết mạnh tay. Năm Sẹo rú lên đau đớn. Nhưng hắn vẫn còn đủ sức quất mạnh cùi chỏ vào đúng chỗ hiểm sau ót của gã mập, khiến gã bủn rủn chân tay. Thoát hiểm, Năm Sẹo dằng lấy thanh mã tấu của thằng đàn em kế bên đưa chém xuống một nhát. Cái đầu của thằng mập bửa làm đôi trong tiếng rú kinh hoàng của cả hai cánh quân.

            Đúng lúc ấy, cảnh sát ập đến. Cả bọn chạy tán loạn, chen chúc lẫn lộn không biết cánh nào của cánh nào nữa. Chỉ có vài thằng chạy thoát. Năm Sẹo bị bắt khi không có mảnh vải che thân.

            Chỉ ba tháng sau, lại thấy Năm Sẹo ra khỏi nhà tù. Giải phóng, hắn ráng tụ tập dàn em tính lập một băng đảng mới. Nhưng chỉ có vài ba thằng theo hắn làm vài ba vụ cò con. Tên hắn được liệt vào danh sách những kẻ nguy hiểm. Cuối cùng thì hắn cũng bị bắt trong một lần cướp hàng trên đường từ Tây Nam đi Sài Gòn. Không có một đứa đàn em nào dám vào thăm nuôi hắn. Thời thế bây giờ thật khó cho những kẻ làm nghề như hắn. Hắn biết chính quyền mới sẽ không thèm xử tội những người như hắn, mà có thể sẽ giam hắn cho đến mạt đời trong nhà tù này thôi. Hắn tỏ ra ngoan ngoãn. Gọi dạ, biểu vâng. Làm tất cả những gì mà cán bộ sai biểu. Đôi ba lần tranh thủ lúc có thể gần gũi truyện trò với cán bộ, hắn còn tỏ ra ăn năn hối cải. Hắn nói rằng, chế độ cũ thối tha, hắn đi cướp trộm là để trả thù đời. Rằng ngày đó , hắn không gặp được giải phóng, chớ gặp được hắn cũng sẽ cầm súng chiến đấu vì nền tự do chân chính. Cán bộ trại giam B4 của Tây Nam thấy hắn chẳng có vẻ gì là nguy hiểm cả. Hắn bắt đầu được phép ra ngoài làm những việc của người lao động chân tay. Làm cỏ sân trại giam. Trồng cây cảnh. Xách nước cho các phòng giam. Quét phòng làm việc của cán bộ. Sau đó hắn còn được phép ra ngoài phố. Nửa năm trời trong bốn bức tường dày, lần đầu được ra phố hắn mới cảm nhận thấy tự do ngoài đời mới thực sự là sung sướng. Hắn nhớ tới một thời ngang dọc, muốn gì có nấy của hắn. Những lần ra phố như thế, lúc nào hắn cũng giữ một khoảng cách không xa với anh công an theo áp giải. Chở ít gạch, đá. Chở mấy bao xi măng. Gom ít đồ dùng cho tù nhân trong trại. Việc gì hắn cũng làm một cách thực chăm chỉ, cần mẫn với khoảng cách không thể nào chạy trốn được. Thời gian trôi qua. Thấy đã quá sức chịu đựng của những trò giả tạo, hắn bắt đầu tìm cách chạy trốn.

Cũng là một lần ra chợ. Chuyện hắn kéo chiếc xe ba gác đi chở đồ đã không còn xa lạ gì với ngừơi dân ở cái thị xã cỏn con này. Ban đầu có người còn ráng theo hắn kín đáo ngắm nghía một đại ca Năm Sẹo nổi tiếng. Nhất là lũ trẻ bụi đời cứ lẽo đẽo theo sau chiếc xe ba gác mà hắn kéo. Anh công an nhiều khi phải xua đuổi chúng mới bỏ đi. Nhưng sau rồi người ta chẳng thấy hắn có gì gợi trí tò mò nữa. Chiếc xe của hắn ra đường chỉ có anh công an với khẩu súng hờ hững trên vai.

            Ra đến cổng chợ, hắn biểu anh công an:

            - Cán bộ có mỏi dò cứ vô quán cà phê ngồi chơi. Em chạy ào vô chợ lát ra liền hà?

            Anh công an lưỡng lự. Hắn thêm:

-Cán bộ cứ yên tâm mà. Em chỉ loanh quanh mấy quầy ngay trước quán cà phê thôi. Cán bộ cứ ngồi trước quán, em không đi qua mắt kiểm soát của cán bộ đâu.

            Thấy hắn có vẻ thành tâm anh công an còn trẻ măng đưa cho hắn số tiền phải đi chợ hôm nay và chặc lưỡi ghé ngồi vào chiếc ghế của quán cà phê ngay trước cửa chợ. Chỗ ấy thuận lợi thiệt. Cả ba dãy chợ lọt cả vào tầm mắt của anh. Ly cà phê mang tới. Có thêm điếu thuốc nữa. Chiếc xe ba gác của hắn vẫn cần mẫn lướt qua các quầy hàng ngay trước mắt anh công an. Chiếc xe dừng lại trước một quầy chén dĩa. Hắn bước vào quầy. Đúng rồi phải mua thêm ít chén nhựa cho trại. Có trong danh mục phải mua hôm nay. Thấy hắn đứng trước quầy một lát rồi sau đó bước theo chủ quầy vào trong nhà. Chắc là biên giấy cho hắn. Nhưng năm phút, rồi bảy phút trôi qua. Không thấy hắn ra. Anh công an nghi hoặc chạy lại. Không thấy bóng dáng ai trong quầy. Anh chui vào trong quầy ra phía sau. Cảnh tựơng trước mắt anh làm anh kinh hoàng. Chủ quầy gục xuống bất động ngay cái sân sau rộng không đầy bốn mét vuông. Quần áo trên người bị lột hết. Bộ quần áo tù nhân bị ném một bên. Anh hiểu ra tất cả. Với ngón nghề của Năm Sẹo, không khó khăn gì mà hắn không hạ gục một cách nhẹ nhàng ông chủ quầy kia. Anh nâng súng lên bắn chỉ thiên ba phát và hô to:

            - Tù trốn trại. Bà con ơi, giúp tôi bắt hắn lại.

            Lợi bất cập hại. Tiếng súng của anh chỉ làm chợ náo loạn cả lên. Người ta ùa đến bu kín cả cái quầy. Có người lấy quần áo mặc cho ông chủ quần và vực ông lên đưa đi cấp cứu. Trên người ông không một vết thương. Còn  anh công an thì tái mặt đứng giữa đám đông.

            Chỉ mình Năm Sẹo biết hắn đã chạy trốn như thế nào. Hắn bước vào quầy. Hắn chỉ vài thứ hàng linh tinh trong quầy biểu ông chủ quầy ghi vào giấy cho hắn để lát sẽ trả tiền. Hắn xin phép chủ quầy cho ra sau đi tiểu. Vừa bước ra sau hắn kêu:

            - Ông chủ ơi. Sao có con rắn chết trong lu nước nè.

            Ông chủ quầy bước ra. Vừa thò được cái đầu qua khỏi tấm mành che, ông đã bị ngay một đòn vào cổ, khiến ông không kêu được một tiếng. Đòn thứ hai hiểm hơn, một cú chặt bằng tay nặng hơn cả một cái chùy giáng xuống. Ông té nhào. Hắn nhanh nhẹn lột đồ ông ra, thay đồ của mình và tung người leo qua hàng rào cao hơn đầu người thoát sang bên kia. Bên kia là bến xe khách, nơi một thời hắn coi là cái sân kiếm ăn của hắn. Bến xe đông nghẹt người. Người ta đang tranh nhau mua vé. Người ta tranh nhau lên xe, chẳng ai hơi đâu mà để ý đến một bóng người bay qua bờ tường vào sân bến. Khi có ba tiếng súng nổ. Bên này cũng nháo nhác cả lên. Còn hắn thì tranh thủ ra đường, vẫy một chiếc xe ôm. Chiếc xe ôm đưa hắn nhanh chóng thoát ra ngoài thị xã. Hắn kêu xe ghé lại một cánh rừng cao su. Hắn rút tiền trả cho chủ xe và lẩn biến vào cánh rừng cao su. Hắn tìm được nơi trước đây dấu cây súng côn. Khẩu súng còn đó, được chôn dưới một gốc cây cao su già. Cây súng còn nguyên và được bảo vệ bằng một lớp mỡ bò. Hắn biết không thể lảng vảng ở đây được. Hắn tìm cách lẩn ra chiếc xe đò lẩn về thành phố.

            Thành phố Sài Gòn không phải là đất làm ăn của hắn. Hắn đã nhắn rất nhiều tin cho đàn em. Nhưng chẳng đứa nào dám xuống Sài Gòn theo hắn. Hơn nữa giải phóng đã được mấy năm, chính quyền quản lý chặt, không dễ cho những băng đảng hoành hành. Không đứa nào muốn dây vào chính quyền hiện nay. An phận thủ thường làm dân lương thiện sướng hơn. Sài Gòn đông đúc đủ sức cho Năm Sẹo lẩn trốn được một thời gian. Nhưng rồi đi đâu cũng thấy dán lệnh truy nã với tấm hình hắn trần dần trên đó. Hắn không thể sống ở Sài Gòn được nữa.

Không còn con đường nào khác là trốn lên rừng. Hắn gặp những đoàn xe chở gỗ từ Bàu Cày xuôi xuống thị xã đi Sài Gòn. Hắn leo lên một chiếc xe chạy không ngược lên phía rừng. Anh lái xe hỏi hắn đi đâu, hắn trả lời lên làm thuê cho mấy ông thợ sơn tràng. Suốt dọc đường, hắn luôn hỏi anh lái xe về Bàu Cày. Anh lái xe thao thao kể về một vùng đất đang hỗn loạn lên vì cuộc khai thác trắng cả cánh rừng. Năm Sẹo mừng. Cứ chỗ nào hỗn loạn thì đó là nơi hắn dễ kiếm ăn nhất.

            Khi  đổ bộ được vào đất Bàu Cày, hắn tìm đến một ông chủ xưởng cưa và xin làm thuê cho ông. Hắn bịa ra là nhà hắn ở dưới miền Tây. Cuộc sống dưới ấy không đủ ăn, nên hắn lên đây kiếm việc. Ông chủ xưởng cưa nhìn hắn vẻ nghi ngờ. Nhất là ông thoáng nhận ra trên ngực hắn có xăm hình con rồng, khi hắn cảm thấy nực nội, bung ra một chiết nút áo trên cổ. Thấy ánh mắt ấy, hắn có cảm giác không an toàn. Ông chủ xưởng cưa cho hắn ăn một bữa cơm. Hắn liều ở lại với ông chủ xưởng cưa vài ngày, lao vào công việc để tránh những cặp mắt nghi ngờ. Nhưng hắn không làm sao thoát được những ý nghĩ hoảng loạn. Khác hẳn ngày xưa, khi những băng đảng còn xếp hàng thứ mấy sau Cộng sản và phe phái chính trị, hiểm nguy cách mấy hắn cũng coi như không. Còn bây giờ thì hắn đang lẻ loi. Quanh hắn không có lấy một trợ thủ nào. Những ánh mắt của những người thợ cứ chăm chắm nhìn hắn như moi gan móc ruột hắn. Vài bữa sau, hắn lấy cớ vào rừng và theo con suối Bàu Cày lội ngược lên tìm đường đi nơi khác. Hắn cũng tranh thủ vơ một mớ thịt rừng khô của cánh thợ mang theo phòng thân. Thế nên hắn mới có mặt ở gốc cây gừa của cặp tình nhân vụng trộm kia. Đêm trăng, hắn không ngờ lại có được một chỗ nằm ấm thân đến như thế. Nhưng khi hắn vừa tính nằm xuống thì nhận ra bóng người từ trong làng đi ra. Hắn khẽ khàng lánh ra phía sau cây gừa. Hắn thấy thú vị khi thấy xuất hiện thêm một người đàn bà. Cũng là thứ mèo mả gà đồng thôi. Và đúng vào lúc hai kẻ tình nhân bắt đầu vào cuộc say đắm thì hắn nhảy ra.

            Bây giờ, người đàn bà ngồn ngộn thân xác kia đang đứng trước mặt hắn. Ngày xưa với thứ này hắn không thiếu. Còn bây giờ

Gã đàn ông hung hãn đè ngửa vợ Hai Cu xuống ngay trước mặt gã trai làng. Gã hấp tấp làm cái việc của đàn ông trên cơ thể ngay đơ của vợ Hai Cu. Gã trai làng bị trói căm giận đến tột độ. Gã cựa tay. Bàn tay đàn bà trói gã không được kỹ càng nhưng cũng đủ để qua mắt thằng đàn ông kia. Sau vài cái cựa những vòng dây lỏng ra. Bàn tay gã vung mạnh thoát khỏi những vòng dây trói. Gã đứng dậy co chân đạp mạnh vào lưng gã đàn ông lạ hoắc kia. Gã bật dậy. Gã trai làng đâu có phải là đối thủ của Năm Sẹo. Dù gã trai làng có khoẻ như vâm cũng không đủ nhanh nhẹn và dữ tợn như Năm Sẹo. Chỉ một cú đá, gã trai làng đã gục xuống. Tiện tay, hắn quật mạnh báng khẩu súng xuống đầu gã trai. Một tiêng khô khốc vang lên, Gã trai gục xuống máu tràn ra đỏ tươi dưới ánh trăng. Vợ Hai Cu rú lên khủng khiếp. Cô co rúm người lại, còn hắn thì lao tới dơ bàn tay ra bóp ngang cổ cô. Hắn xiết cho đến khi cô mềm nhũn dưới tay hắn. Hắn biết, thế là tay hắn lại đưa thêm hai người nữa biến khỏi thế gian này. Hắn ngồi lại bần thần. Hắn vơ thêm bộ quần áo của gã trai làng và biến vào trong rừng.

Rừng vẫn ngập tràn ánh trăng.

( Còn tiếp)

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

13 Oct, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo)

 

 

 TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

 

            Vô tình, ông nhắc lại một câu đã nói về ông Ba Thiệt từ những lần trước. Cả hai cán bộ huyện này ông đều quý. Cô Út, một thời ngang dọc trên đất này với toàn bộ lực lượng thanh niên xung phong. Không từ bất cứ một việc gì. Chuyển lương thực, chuyển vũ khí. Tải thương. Chôn cất tử sĩ. Khi cần cũng chiến đấu như bao nhiêu đơn vị chiến đấu khác. Ông Ba Thiệt, một cán bộ văn phòng chu đáo, cần mẫn. Chưa phải đánh trận nào trong suốt cuộc chiến tranh, nhưng lòng quả cảm theo ông là có thừa. Một con người khá rõ ràng nhưng chỉ có một giai đoạn hơi khó hiểu đó là bỗng dưng không biết vì sao mà ông có mặt trên căn cứ của tỉnh ủy. Hồi đó Năm Hoàng đã là thường vụ tỉnh ủy, phụ trách công tác tổ chức. Một hôm ông Hai Thanh, bí thư tỉnh ủy thông báo với ông: tiếp nhận một cán bộ mới, bổ xung cho bên văn phòng. Ông còn dặn thêm: Đây là cán bộ dưới huyện bổ xung lên. Có học thức và làm việc được. Vài hôm sau, ông Ba Thiệt xuất hiện trước mặt ông. Một thanh niên cao nhòng. Mặt choắt dài dài như mặt ngựa. Hai tay dài tới đầu gối. Mắt đeo kiếng cận. Đã có lời gởi gắm của bí thư tỉnh ủy, nên Năm Hoàng cũng không cần phải hỏi gì nhiều với người mới đến. Ba Thiệt làm việc chỉn chu, cần mẫn nên chẳng mấy ai quan tâm anh ta từ đâu đến và vì sao lại được bí thư tỉnh ủy quan tâm đến như vậy. Trái lại, có người còn khen đồng chí bí thư tinh mắt biết chọn người. Khi đồng chí bí thư chuyển lên Trung ương cục nhận trọng trách khác, thì Năm Hoàng được bổ xung làm phó bí thư tỉnh ủy cho đến tận ngày giải phóng. Do cơ cấu, Năm Hoàng trở thành bí thư sau một kỳ đại hội. Ba Thiệt cũng vì gỉoi dang với công việc nên được bổ xung về huyện Cái Bưng này và cũng nhanh chóng trở thành bí thư huyện ủy của huyện này.

            - Chuyện ấy bỏ qua đi. Ở đây việc xây dựng các tuyến kinh cho hồ nước Sông Tràm đến đâu rồi?…

            - Công việc vẫn tiến triển tốt. Huyện bắt đầu đi vận động dân nơi sẽ chìm trong nước, chú Năm.

            - Ý dân sao?

            - Chín người mười ý. Nhưng hầu hết, họ đều không muốn thay đổi cuộc sống, không muốn dịch chuyển.

            - Không muốn mà được sao…

            - Không thể nói với dân như vậy được chú Năm ơi. Ngày xưa địch nó cưỡng bức dân vào ấp chiến lược. Họ đi rồi họ lại về. Không thể làm cho họ hiểu lầm là bị cưỡng bức gom dân.

            - Đúng là như vậy. Còn ý ông Ba Thiệt sao?

            - Vẫn cứ nghi ngờ. Ông không tin là có thể ngăn được một dòng sông như thế.

            Ông Năm lắc đầu:

            - Thế giới này người ta làm bao nhiêu chuyện còn khó hơn. Mà thôi, đừng nhắc đến ổng nữa. Cháu lại phải trổ tài của thời thanh niên xung phong đó nghe.

            - Là sao chú Năm.

            - Tiếp tục huy động lực lượng tập trung cho xây dựng hồ nước. Phần thủ công do mình đảm nhiệm đó. Hiện nay số người trên công trường là bao nhiêu?

            - Khoảng trên mười ngàn. Trong đó riêng Cái Bưng là bốn ngàn.

            - Cần tăng cường thêm. Chú đã có chỉ thị cho các huyện trong tỉnh rồi. Họ sẽ có kế hoạch vận động thêm dân công. Chúng ta đã tiến hành công trình được gần ba năm rồi. Chỉ còn hơn một năm nữa thôi…

            - Cháu thấy chú lo chuyện hồ nước hơi nhiều. Mọi chuyện đang tiến hành khá suôn sẻ, có gì đang lo lắm đâu, mà cháu thấy chú có vẻ như sốt ruột lắm thì phải..

            - Lại không sốt ruột?  Ban quản lý công trình người ta đã lập xong rồi, tức là việc ngăn sông sắp được thực hiện rồi. Có nghĩa là nước đến chân rồi đó. Chú sốt ruột vì muốn thấy ngay một công trình lớn trên đất Tây Nam này, để cho những kẻ còn nghi ngờ sáng con mắt mình ra và đừng cản trở bước tiến của xã hội. Báo cho cháu biết, thường vụ chưa quyết việc chuyển ông Ba Thiệt sang bên tuyên giáo tỉnh ủy. Họ muốn có chuyển thì chuyển ảnh lên làm bên kiểm tra đảng kìa…

            - Không được chú Năm. Anh Ba Thiệt là làm kiểm tra thì mất hết cán bộ. Cách nhìn người của anh Ba nó cứng ngắc và cục bộ nữa.

            - Chú biết. Nên chú mới định thu xếp ổng sang tuyên giáo. Ổng đọc sách chính trị nhiều, ổng qua đó là hợp nhất đó… Nhưng tình huống này không được rồi, chú xuống đây để bàn với cháu và anh Ba cách sắp xếp công việc. Công việc của huyện anh Ba lo với các đồng chí phó chủ tịch. Riêng chuyện xây dựng các tuyến kênh nội đồng giao hẳn cho cháu. Được không. Để tránh những đụng độ giữa hai người. Chúng ta đã chạy được khá nhiều việc rồi . Các tuyến kênh đã hình thành rồi. Mai mốt chú sẽ ra công trường với anh em. Có thể ở lại trên công trường vài ngày để động viên dân công. Này chú hỏi thực, có phải giữa cháu và ông Ba Thiệt càng ngày càng có hố sâu ngăn cách không. Nếu có thực như thế thì nhất định không được rồi. Lần này, phải kiên quyết chuyển công tác cho ông ta thôi…

            Trong lúc đó trên phòng họp có tiếng điện thoại trên bàn ông Ba Thiệt réo lên. Ông Ba Thiệt ra hiệu cho mọi người cứ tiếp tục và cầm tổ hợp lên:

            - A lo , tôi Ba Thiệt đây. Ai? Nói to lên. Công an. Rồi, biết rồi.

            Ông vẫy tay gọi anh trưởng công an:

            - Nghe điện thoại nè.

            Anh trưởng công an chú ý nghe, vẻ mặt căng thẳng. Anh hạ chiếc máy điện thoại xuống , đến bên ông Ba Thiệt:

            - Anh Ba. Trên công an tỉnh họ báo thằng Năm Sẹo trốn khỏi trại rồi. Hiện có tin nó đang ở địa bàn huyện mình. Các anh trên ấy kêu chúng ta phối hợp lùng sục.

            Ba Thiệt cau mày:

            - Việc của tỉnh, cứ để tỉnh lo. Giữ có một thằng cướp thôi mà cũng không nên hồn. Làm ăn cái gì được chớ.

             

           

VI.

 

Cả cái làng Bàu Cày xôn xao. Nhà nước đang chuẩn bị nhấn cả làng xuống dưới lòng nước. Chuyện lan cả ra cả hai cái chòi của lão thày bói và Hai Cu. Cả hai lại có chuyện để mà bàn với nhau trong những đêm hưu quạnh vắng vẻ.

Người ta đang chuẩn bị nhấn chìm cả làng xuống nước, nên người trong làng đang tranh thủ cướp bóc đất đai và tài nguyên. Trồng những cây nhanh cho ăn nhất như đậu xanh, đậu phọng, mè chẳng hạn. Nhưng kinh khủng nhất là chuyện phá rừng. Người ở đâu tuôn về đây đông nghìn nghịt. Mấy chục cánh thợ sơn tràng với những dụng cụ có sức tàn phá nhanh nhất. Đó là những cây cưa máy trên tay. Những chiếc xe có thể kéo một lúc hai ba cây cả vòng tay ôm và dài thườn thượt. Cánh nhà nước đóng trại cưa ngay trong rừng và suốt ngày cưa cắt. Bất kể cây gì cũng cắt. Căm xe, dầu, cẩm lai, lim trắng, cày… gặp cây là hạ. Gặp cây là cắt , không thương tiếc. Cánh chủ trại cưa ở đâu cũng tấp về chia vùng để khai thác. Ba năm phải khai thác trắng vùng này mà. Lệnh như vậy. Vùng tập trung là làng Bàu Cày và ven xung quanh. Nhưng khỏi cần biết đâu là vùng quy định khai thác, tất cả đoàn quân tiêu diệt cứ thế mà lao vào rừng. Con đường bé nhỏ vào làng trước đây, bây giờ toang hoác rộng. Xe kéo cây nườm nượp ra vào. Những chiếc xe mấy cầu chẳng cần ai mở đường mà cứ bang bang ào tới. Có những chiếc xe sập hố lật ngang. Có những chiếc xe va vào nhau vỡ toang cả thành xe. Lái xe cãi nhau văng tục một hồi lại phụ giúp nhau sửa xe, chạy tiếp. Đừng mất thì giờ vào việc lời qua tiếng lại. Nhanh lên, những cây gỗ đang chờ cắt xuống kìa. Ngay ở trong rừng cũng vậy. Những cánh thợ tự khoanh lấy rừng mà cắt. Ban đầu lệnh chỉ cho những lâm trường khai thác. Khai thác có chỉ tiêu đàng hoàng. Có chỉ tiêu rồi thì phải vượt chỉ tiêu. Ai cũng phải vượt chỉ tiêu. Cây cứ thế mà đổ xuống rầm rầm. Ban đầu cũng cấm không cho tư nhân vào khai thác. Nhưng cấm làm sao nổi. Vài anh kiểm lâm thưa thớt làm sao quản lý được cả cánh rừng mấy chục ngàn héc ta kia. Những cánh chủ nhà máy cưa vào rừng cũng tự khoanh lấy những vùng khai thác cho mình. Thỉnh thoảng có những vụ choảng nhau vì lấn vùng khai thác của nhau. Những ông thợ sơn tràng mà nổi nóng lên thì cũng không khác gì cánh đao búa giang hồ. Họ vác cưa, vác búa lao vào nhau, đánh sáp lá cà. Chỉ đến lúc có người đổ máu thì cuộc chiến mới kết thúc. Lại hết hận thù. Lại giúp nhau chạy chữa cho người bị thương. Rừng chán vạn cây đó nhường nhau một chút để người ăn cơm cũng chừa cho người ăn cháo.

Làng Bàu Cày có thêm một nghề mới, hầm than. Chuyện đồng áng xong là cả làng vào rừng. Mỗi nhà cũng dành lấy một khu. Họ đào xuống đất một cái hố rộng. Đi theo cánh thợ rừng, lượm tất cả cành cây, gốc cây mà cánh thợ chê không lấy, mang chất xuống hố. Chất cho thực đầy, chất cao hơn mặt đất chừng hai ba thước. Ngào đất cho dẻo chét lên. Thế là thành một lò hầm than. Lửa nổi lên. Thế là xong, bỏ đó về nhà làm việc khác. Vài ngày sau lên, những khúc gỗ bị cháy om còn nguyên hình dáng nhưng đã biến thành những cục than đen. Dỡ ra. Có hầm được cả mấy tạ than. Những chiếc xe chờ sẵn cứ việc cân, rồi bốc lên xe chuyển về thành phố.

Làng Bàu Cày vì thế dạo này cứ chộn rộn cả lên. Xe chạy ra, chạy vào. Người ở đâu ùa đến thực đông. Có những cánh thợ thì có những cánh buôn bán gỗ. Có người hầm than thì có người buôn bán than. Mà có bán, có buôn thì sẽ thành cái chợ. Trước hết là chợ gỗ, chợ than. Người đông thì nhu cầu cũng nhiều hơn. Trong làng đã xuất hiện những quán cà phê, quán hủ tiếu , cháo lòng tiết canh. Thêm cả những quán nhậu. Ban ngày lùa nhau vào rừng. Ban đêm rủ nhau vào làng. Ai không nhậu thì uống cà phê. Ai thích nhậu thì nhậu. Những cuộc nhậu tưng bừng ồn ào cả làng. Có cả những bóng hồng. Cánh thợ hầu hết là đàn ông, nên cũng có cánh gái giúp các vị đàn ông giảm căng thẳng thần kinh, sau những giờ lao động. Nhậu, cãi lộn. Giành gái, cãi lộn. Làng Bàu Cày mất đi vẻ yên tĩnh ngày xưa. Làng Bàu Cày thành cái chợ hổ lốn.

Chập tối, sau bữa ăn, Hai Cu đã sang nhà lão thày bói. Lão thày bói lâu nay đã có nhiều khách đến. Con đường từ trong làng ra cái chòi của lão mỗi ngày một mòn thêm và rộng thêm. Chuyện hai người trong làng thịt heo trộm hôm nào bây giờ người ta cũng đã quên rồi. Mà hình như cái thời thịt heo trộm cũng đang dần mất đi. Một người thịt được sẽ có nhiều người thịt. Nhiều người thịt thì thành cái lệ. Đã thành lệ rồi thì luật cũng chào thua. Người trong làng đã thân thiện dần với hai gia đình sống lẻ loi ngoài bãi hoang. Hai Cu đã có nhiều việc làm hơn ở trong làng. Hai Cu lại có thể giở được những mánh lới của thời sống lang thang ngoài thị xã. Chỉ khác ngày ấy làm những việc con con kiếm sống còn bây giờ đã nhiều việc đúng với tầm vóc của Hai Cu hơn. Hai Cu tiếc mình không có vốn để mà buôn bán vào lúc này thôi. Hai Cu cõng hàng vào rừng cho cánh thợ. Họ cần gạo, cần muối có Hai Cu. Họ cần mua gì là Hai Cu ghi nhớ trong đầu, ngày hôm sau có đủ. Hai Cu thoắt ẩn, thoát hiện trong rừng như con sóc làm công việc trung chuyển những thứ hàng thiết yếu cho cánh thợ trong rừng. Hai Cu còn làm thêm cả việc dẫn gái cho những cánh thợ nữa. Vì thế đám gái làng chơi cả chục đứa, đứa nào cũng biết Hai Cu. Chúng chiều Hai Cu lắm. Để Hai Cu dẫn mối. Đám gái sống rải rác trong làng. Gì cũng được chớ chuyện dâm ô, trụy lạc là phải cấm tiệt. Nhưng cấm làm sao nổi. Đám gái chỉ đi hành lạc trong rừng, chớ có hành lạc trong làng đâu mà du kích bắt. Còn lúc chúng thuê nhà sống trong làng chúng cũng có cái vẻ dịu dàng như bao nhiêu người con gái khác thôi. Xem ra việc dẫn gái dễ kiếm ăn hơn tất cả. Hai Cu đặt giá trước với cánh thợ. Lại đặt giá luôn với đám gái. Thế là Hai Cu ăn được hai đầu.

 Vợ Hai Cu bây giờ đã qua cái tuổi dậy thì. Đã ra dáng một người con gái nẩy nở hết những chổ cần nẩy nở. Mông phúng phính. Ngực trĩu nặng. Má đỏ hây hây. Mà hôm nào má cô đỏ hây hây là Hai Cu hoảng. Tuổi Hai Cu trẻ thực, nhưng một ngày quần thảo với công việc trong làng, khiến Hai Cu nhiều khi không đáp ứng được chuyện ân ái với vợ. Hai Cu bèn kiếm việc cho cả vợ cũng đi làm với mình. Cô làm việc có khi còn khoẻ hơn cả Hai Cu nữa. Tay chân cứ như cái máy, thoăn thoắt. Thêm vào nữa, một thời sống kiếp lang thang khiến mồm miệng cô cũng không thua kém gì người ta. Lũ trai trong làng chỉ khiếp Hai Cu một chuyện đó là đã từng sống bụi đời có cái khí khái của một kẻ giang hồ, liều mạng. Làng với Hai Cu không còn xa lạ gì. Một khi đã quen rồi, Hai Cu cũng quên luôn cái kiếp ở đậu của mình, tự cho mình cái quyền giống người trong làng vậy. Vợ Hai Cu mỗi ngày mỗi đẹp thêm ra. Càng đẹp thì cô ta càng có vẻ coi thường Hai Cu. Cho nên mỗi khi đi làm cô thường tách ra khỏi chồng làm công việc ở những chỗ khác. Nhất là ở những chỗ đông người.  Ở đó cô tha hồ cho cái miệng của mình tía lia. Mặc kệ những chàng trai chọc ghẹo. Chuyện gì cô cũng cười. Nhiều khi còn tham gia vào những câu chuyện tục đến gai người. Thường thế. Người ta thiếu cái gì thì thèm cái đó. Thèm mà không có thì nói ra miệng cho nó đã. Bây giờ có nhiều việc làm rồi, chuyện ăn không còn phải lo nữa. Trước kia ở lẻ loi chỉ biết có vợ với chồng lo người làng khinh miệt, bây giờ cũng không phải lo nữa. Bây giờ chỉ còn lo làm sao có cái nhà to hơn một chút, đẹp hơn một chút. Chuyện ấy cũng chẳng khó khăn gì. Đất này là đất mới. Sau giải phòng người từ rất nhiều nơi đã về đây là kiếm sống. Rừng đã được phá hoang thành ruộng, thành rẫy. Nhà cửa trong làng đã mọc lên ngày một nhiều hơn. Cái chợ bé nhỏ hôm nào, nay đã to hơn nhờ nhiều sạp hàng hơn, nhiều người buôn bán hơn. Bữa trước hai người thịt heo trộm là một sự kiện trong làng. Bây giờ chuyện giết mổ heo chẳng khó khăn là mấy. Nộp mấy đồng thuế sát sinh là xong. Giết mổ rồi thì xin với quản lý thị trường bán ở dâu cũng được. Thì cái việc vợ chồng Hai Cu thèm có căn nhà không thấy là chuyện khó khăn nữa. Nhất là Hai Cu bây giờ sống bám vào cánh thợ phá rừng kia, ngày nào cũng kiếm ra tiền. Hai Cu kiếm việc cho vợ làm nhưng chỉ cho làm việc trong làng thôi. Hai Cu sợ vợ nhập cuộc trong rừng rồi thành gái làng chơi lúc nào không biết. Vợ Hai Cu cũng không muốn như vậy. Cô thích những nơi đông người hơn. Nhưng có một cái thường có mà lúc nào vợ Hai Cu cũng thèm. Đó là chuyện ân ái. Hai Cu khoẻ mạnh, nhanh nhẹn trong công việc nhưng xem ra chuyện vợ chồng, Hai Cu không mấy sung mãn. Sung mãn sao được. Trong khi vợ mỗi ngày một nở da, nở thịt, thì Hai Cu vẫn cứ như thế. Tong teo, khỏng khoẻo. Mỗi lần lên giường nằm cạnh vợ là mỗi lần Hai Cu lo lắng. Ngay chuyện lo lắng thôi cũng làm cho Hai Cu xìu mất rồi. Những lúc đó là lúc vợ Hai Cu phải ra tay. Cô vầy vò cho đến khi Hai Cu phải làm cho xong thiên chức của một anh đàn ông, dù nhanh hay chậm với vợ mình. Chỉ khổ cho cô vợ, lúc mà Hai Cu làm xong phận sự của mình là lúc cô ta thèm khát đến phát điên. Có những lần khi Hai Cu vật ra bên cạnh, cô ta đã gạt Hai Cu sang một bên, khóc tấm tức. Hai Cu có lúc bực mình gắt: “ Thích thì đi kiếm thằng khác. Tao hết chịu nổi rồi” . Cô vợ nghiến răng: “ Không phải thách”.

Đúng là không phải thách thực. Vợ Hai Cu đã nhắm được một anh chàng trai tơ khoẻ như vâm ở trong làng. Cậu này chừng mười chín, hai mươi là cùng. Tuổi này ở nhà quê là vợ con rồi, nhưng hình như cậu không thèm để ý đến bất cứ một cô gái nào trong làng. Chẳng hiểu sao, hễ cứ nghĩ đến cô nào là cậu cũng nhớ tới cảnh ngày nhỏ cùng nhảy xuống tắm chung dưới dòng suối Bàu Cày. Nhân tiện cũng nói luôn, ở làng Bàu Cày có một con suối. Con suối này chảy ven làng đâm ngay qua cánh rừng rồi đổ vào con sông lớn. Con sông ấy nay mai người ta sẽ chặn nó lại để làm một hồ nước lớn. Con suối có cái tên chung với làng, Bàu Cày.  Cả làng này từ ngày xưa đến giờ ai cũng đã từng nhảy xuống suối mà tắm mỗi khi xong công việc một ngày. Lũ trẻ con thì khỏi nói. Những tháng nóng là thời gian chúng quậy tưng lên ở dưới lòng suối kia. Nhất là mấy đứa chăn trâu, chăn bò. Khi đàn trâu, đàn bò yên vị bên những khóm cỏ là chúng rủ nhau xuống suối tắm đùa đẫy. Con gái, con trai gì cũng tồng ngồng nhảy xuống nước. Sau này, lớn lên, có đứa thành chồng thành vợ, nhắc lại thời nhỏ đó là lại đỏ mặt vì mắc cỡ. Mắc cỡ thì mắc cỡ, cứ nhỏ trần truồng tắm chung, lớn lên trần truồng chung giường. Chỉ có một anh chàng lập dị này là mắc cỡ ngay cả khi chưa ngủ chung với một trong những đứa con gái tắm chung dưới dòng suối kia. Nhưng anh chàng lại thích vợ Hai Cu. Một lần đi nhổ khoai mì. Vợ Hai Cu đã nhìn thấy ánh mắt tần ngần của cậu trai trẻ. Cô biết đây là con nai tơ có thể săn được rồi đây. Cô rạo rực cả người và ấm ức nhớ đến cảnh Hai Cu hổn hển thở và vật mình xuống bên cạnh trong lúc cô đang ưỡn cong người chờ đợi. Chỉ có lần đầu tiên dưới tấm mền rách ở tuổi mười sáu của cô là cô được thỏa mãn. Sau này, cô mong được một lần được như thế mà không có. Hôm ấy, khi nhìn thấy ánh mắt cậu trai kia, cô ráng bỏ qua mà không sán lại bên cậu. Hai hôm sau, hai người lại làm chung trên một rẫy mỳ khác. Giấc trưa, khi mọi người kéo nhau về làng nghỉ, thì vợ Hai Cu biểu cậu trai:

- Có về không? Không về ăn cơm với tôi. Tôi  có mang theo cơm đây nè.

            Chuyện ấy cũng là chuyện bình thường của những người làm thuê. Một bữa ăn trưa dưới một gốc cây mát mẻ nào đó. Sau đó lăn ra cỏ, ngủ một giấc rồi trở dậy làm tiếp.

            Cậu trai trẻ không chờ mời lần thứ hai. Gã không biết bao nhiêu lần vụng trộm ngắm người đàn bà kia. Từ thân thể của cô ta có cái gì mà làm cho gã cứ muốn lại gần, cứ muốn đưa tay sờ thử lên người cô. Nhưng gã còn sợ. Nay bỗng được mời thì còn gì thích bằng.

            Vợ Hai Cu kéo gã trai vào bìa rừng, nơi chỉ cách con suối chừng vài bước chân. Ở đó có một cây gừa cạn mọc xanh um. Dưới bóng gừa có một miếng đất phẳng. Việc đầu tiên mà vợ Hai Cu làm là lôi thốc cậu trai xuống suối. Hai đứa dìm nhau đùa đẫy dưới suối khá lâu, đủ để gột rửa những bụi bặm và mồ hôi sau một nửa ngày làm lụng. Gã trai tơ ngờ nghệch để người đàn bà đã trải chuyện ái ân gỡ từng thứ một trên người xuống. Trước mặt cô là một thân hình đàn ông thực sự. Từng múi thịt trên người cậu ta đủ làm cho cô nghẹt thở vì thèm muốn. Chiếc tà lỏn xém chút nữa thì trôi theo nước, may mà gã trai chưa kịp quên là mình còn ngây ngô không biết cô gái kia lột quần mình ra để làm gì. Câu quơ tay với lại được chiếc quần. Còn vợ Hai Cu thì vồ ngay lấy phần đàn ông của gã trai. Lát sau, cô lôi gã trai lên bờ. Vừa chui vào dưới tán cây gừa, cô cũng lột hết đồ trên người mình ra. Cô cầm lấy tay của gã trai ấn vào ngực mình. Bắt gã trai xoè bàn tay ra và dạy cho gã cách xoa bóp . Chuyện ấy làm gì phải dạy bảo lâu. Chỉ chốc lát thôi gã trai đã dồn sức vào hai bàn tay, tham lam xoa nắn thỏa thích. Cô lại kéo tay cậu xuống. Dạy cho cậu tìm đến nơi khoái lạc. Cũng không cần phải chỉ bảo nhiều. Bàn tay cậu đã biết làm gì khi chạm đến một phần nhỏ nhưng mềm như nhung, ấm như lửa phía dưới người đàn bà. Khi không còn chịu đựng được nữa, vợ Hai Cu bật ngửa ra, miệng rên rên:

            - Biết làm sao không?

            Gã trai lắc đầu. Cô kéo cho gã trai phủ lên người mình. Lắc mạnh để tìm thấy cái mà cô cần. Khi thấy rồi, cô nắm lấy và tự mình làm cho hai thân xác hoà vào nhau. Gã trai đúng là còn quá vụng về. Nhưng do thèm khát quá, nên chỉ cần nhập xác nhau là cô đã bừng lên nghẹt thở vì khoái cảm. Tội nghiệp cho gã trai, vẫn chưa kịp biết gì. Cô nén lại và giúp cậu hoàn tất cuộc chơi. Lần đầu tiên trong đời. Cậu cứ tưởng yêu nhau thì phải thế nào kia, chớ yêu nhau mà chỉ làm cái việc này thôi ư? Bàn tay của người đàn bà giúp cho gã trai biết lắc lư, lắc lư. Những cảm giác kỳ lạ bắt đầu xâm chiếm con người gã. Và lần đầu tiên trong đời gã được rùng mình. Một cái rùng mình đồng thời với niềm khoái lạc. Hắn không nằm vật ra như Hai Cu, mà xiết ghì lấy người đàn bà. Giữ nguyên người đàn bà nằm bên dưới gã. Sức trai trẻ cho phép gã giữ như thế và người đàn bà cũng không thể đẩy gã ra, vì vẫn đang còn râm ran thèm khát. Gã trai lấy lại được cảm giác và thêm một lần nữa gã tìm khoái cảm cho mình. Vợ Hai Cu không còn thấy cái gì hạnh phúc hơn thế. Mấy năm gần gũi Hai Cu, cô làm gì có được như thế này. Cô rên rỉ, xuýt xoa. Cô tham lam ghì xiết lấy gã trai. Cô nâng người lên cho gã trai. Lần thứ hai này gã trai mới thực sự làm người đàn ông. Phút cuối cùng, gã a lên một tiếng . Cũng là lúc vợ Hai Cu dướn cao, hét lên. Giữa đồng không mông quạnh, giữa mênh mông rừng, chẳng có ai ngăn cản hai con người khoái lạc. Chúng mặc sức mà rên rỉ mà kêu lên những tiếng kêu của loài thú lúc làm tình.

            Lát sau chúng kéo nhau xuống suối. Vợ Hai Cu hỏi gã trai:

            - Còn muốn gặp nữa không?

            Gã trai gật.

            - Mai nghe.

            Gã trai lại gật.

Tình cảm vợ chồng Hai Cu mỗi ngày một nhạt hơn. Có lần Hai Cu biểu:” Tao mà biết thế này, ngày xưa tao đéo trèo lên bụng mày làm gì? Mẹ kiếp nuôi mày đẹp ra để mày nứng l.” Hai Cu biết vợ mình lăng nhăng với gã trai trong làng, nhưng chẳng muốn nói. Anh ta muốn con vợ đi luôn đi cho rồi. Nhưng lại tiếc. Bỏ nó là bỏ hết thảy. Vì nó mà Hai Cu về đây ở. Nhất là càng ngày nó càng đẹp ra. Đẹp phây phây. Dạo này, đêm đêm nó ít đòi hỏi hơn. Hai Cu biết nó đã cho người ta rồi mới không đòi. Nhờ thế, lâu lâu Hai Cu lại có thể làm cho vợ khoái cảm. Những hôm như thế, vợ Hai Cu chiều chuộng Hai Cu hơn. Vợ chồng như có một thoả thuận ngầm: Vợ thiếu thì đi kiếm. Còn Hai Cu chỉ làm chồng khi nào Hai Cu cần.

            Nên tối đến, Hai Cu thường sang chòi lão thày bói chơi. Ngược lại với vợ chồng Hai Cu, vợ chồng lão thày bói càng sống với nhau càng hoà thuận hơn. Kiếp sống ngụ cư khiến hai người biết thân, biết phận mà dựa vào nhau cùng sống. Ngày ngày sau khi lo cho chồng đầy đủ những thứ cần thiết của một thày bói cô vợ cũng vào làng làm việc. Ở một vùng heo hút như thế này có một người đàn bà biết chữ quả làm một sự hiếm hoi. Cô nhận lời làm thư ký cho ủy ban xã. Tất cả những công văn giấy tờ của xã cô lo soạn thảo. Tất cả những đơn từ của những người dân trong làng cô làm giúp. Cô dần được cả làng yêu mến. Cô được một khoản trợ cấp. Cô giúp ai cái gì, người ta cũng trả công. Người cho tiền, người cho những thứ thiết yếu trong nhà. Dần dần trong nhà cô không còn thiếu những thứ đồ dùng của một gia đình. Cùng lúc đó, tiếng đồn về một ông thày bói ở ẩn nói cái gì cũng trúng  loang rộng ra, khiến ngày càng nhiều người đến. Vẫn như ngày xưa, ông chẳng coi tiền vận hậu vận cho ai, mà ông chỉ cho người ta những lời khuyên. Cách của ông thực khéo. Khi gieo quẻ là khi ông tìm hiểu gia cảnh của người đến nhờ ông coi tứơng số. Câu chuyện càng dài ông càng hiểu người đến với mình hơn. Thay vì ông nói với người ta số anh đã thế này, đã thế kia. Mai sẽ thế này, sẽ thế khác, thì ông bắt đầu khuyên người ta. Cô muộn chồng ư? Bao giờ thì lấy chồng ư? Không cần biết. Nếu cô muốn lấy được chồng thì phải nết na chăm chỉ. Sống phải biết trên biết dưới. Đừng gặp ai cũng chê ỏng, chê eo. Khi gặp người mình thích mình yêu, thì phải đối sử sao cho người ta biết mình đang yêu người ta… thế nào cũng có ngày cô có được tấm chồng tử tế. Anh hỏi vì sao anh gặp nạn nghèo ư? Người ta sống trên đời này đúng là có số thực đấy. Nhưng người nghèo sẽ không nghèo mãi đâu. Chăm chỉ làm ăn, biết tính toán lo toan, không hiểu chuyện gì phải học chuyện nấy rồi sẽ thoát nghèo thôi. Anh cứ sống thực thà thì làm gì có người hại anh. Anh coi lại mình coi, có sử ác với ai không, có âm mưu hại ai không. Nếu có thì thôi đi. Nhân đức là tránh được mọi cái hạn ở đời này thôi. Như thế, lão không tiếc gì những lời khuyên. Nhưng tâm lý của người coi bói là muốn biết về thân thế mình, số phận mình. Họ nghe lão nói và tự mình biết rồi mình sẽ ra sao. Rồi người ta vận vào mình thấy sao lão nói toàn những lời đúng và nhân đức thế. Chiếc trõng làm nghề bói của lão vì thế mà cũng kiếm được khối tiền. Bây giờ chỉ còn có việc tích cóp lại để sửa cái nhà cho rộng ra nữa thôi.

            Vậy mà nghe tin làng sẽ chìm trong nước thì gay go to. Hai Cu ngồi nép một góc cái trõng bói. Anh lên tiếng trước:

            - Chú Ba nè? Rồi mình sẽ ra sao há?

            - Ra sao là sao?

            - Kiếm mãi mới có được một chỗ yên thân, bây giờ biết chuyển đi đâu bây giờ?

            - Tôi nghe nói nhà nước sẽ cho đất để mình chuyển đi mà.

            - Là những người trong làng kìa. Họ có tên trong danh sách. Họ có hộ khẩu. Chớ mình có cái gì đâu. Một mảnh giấy lận lưng không có, ai người ta xếp mình vào loại người được giúp.

            Lão thày bói thở dài:

            - Tôi chẳng đi đến đâu nên chẳng biết cái gì cả. Vợ tôi nó nói là: Nay mai làng này chuyển đi đâu cách đây mấy chục cây số. Chẳng biết thế nào. Thú thiệt, tôi chẳng muốn đi đâu cả. Đất ở mãi thành quen. Đi tiếc thực…

            - Mẹ kiếp, biết thế ngày xưa đừng về đây. Ở mẹ nó ngoài thị xã, làm thuê làm mướn mà sống có khi lại hay. Bây giờ muốn sống yên cũng không được.

            - Cậu nói thế lại không đúng rồi- lão thày bói gạt ngang- Thế cậu tin là ở ngoài thị xã cậu sẽ có nhà có đất không? Không chớ gì. Thế cậu có tin là ở ngoài thị xã cậu không còn phải đi lượm bọc mủ nữa không? Không chớ gì? Cái cơ bản là ở đâu có chuyện làm ăn ta ở đó bám mà làm ăn. Đừng có sốt ruột. Ngày xưa ấy mà, khi chưa vợ ấy, tôi chẳng thiết gì đến chuyện lo làm, lo ăn đâu. Một mảnh đất con con, một mái nhà con con. Một chỗ nằm nho nhỏ được rồi. Nhưng ai dè lại được cổ thương, cổ về ở thế là mọi thứ lại gấp hai lên. Đất phải gấp hai, nhà phải gấp hai, giường ngủ phải gấp hai. Cứ thế mà gấp hai lên hết, biểu không lo sao được. Nay mai còn có thêm nhóc con trong nhà nữa, lo thế này sao đủ. Cậu ấy, phải bàn với vợ mà lo việc đi. Nghe đâu, vợ chồng cậu cứ làm sao ấy…

             Lão thày bói bỗng  thở dài. Trời sáng trăng suông. Một thứ ánh sáng bàng bạc chùm lên khu cánh đồng hoang. Gió hú ở đâu xa lắc. Vẫn những con ễnh ương nhả từng tiếng kêu não lòng vào trời đêm. Con thì trầm, con thì bổng, con thì oang oang. Tạo bè cho bầy ễnh ương là lũ bù toọc. Cái thứ tiếng gì mà dị hợm. Giống  như một cây kim nhỏ khoan vào lỗ tai người ta. Đều đều, rả rích. Muỗi nhiều không kể xiết. Những ngày đầu ra đây Hai Cu hoảng vì muỗi. Nay thì muỗi chẳng đáng sợ nữa. Ở riết rồi muỗi cũng thành quen. Xung quanh nơi ở của hai người bây giờ cũng đã quang quẻ nhiều. Mỗi ngày một ít, họ phá dần những ụ mối, những gốc cây và làm thành những thửa ruộng nhỏ để mỗi năm có thể gieo được ít hạt lúa. Sau vụ lúa thì trồng ít đậu xanh, ít mè. Đất chua phèn, nhưng có tay người dần dần cũng khá hơn. Cái miễu thờ thằng ăn mày (là trước kia người ta kêu vậy, nhưng từ ngày Hai Cu về ở cạnh, Hai Cu đã gọi đó là miễu ông ăn mày rồi ), bây giờ cũng được vợ chồng lão thày bói và vợ chồng Hai Cu sửa sang lại. Cả hai nhà đều cho rằng nhờ vía của ông mà họ được sống yên ổn. Những cây cột đã được lau chùi lại cho sạch sẽ. Có cái bàn thờ mới, tuy nhiên nhưng thứ cũ như chân đèn cày, bát nhang của ngày xưa vẫn để nguyên. Đó là vật cổ và thiêng nữa mà. Trước đây, chỉ khi nào có người ra ngoài này làm ăn có đi ngang thì ghé vào đốt nhang. Còn bây giờ, ngày nào hai nhà cũng nhang khói đầy đủ. Những người ra bàu coi bói khi ra đây cũng nhang khói trong miễu. Khi rằm hay ngày cuối tháng còn có cả trái cây, có chén cơm, quả trứng. Có khi còn có cả thịt nữa.

            - Nè cậu Hai. Thấy người ta biểu đi làm cây cũng kiếm ăn lắm mà. Chú mạnh chân khỏe tay sao không theo người ta mà làm.         

            - Làm sao kịp với người ta , thưa thày. Thày  có biết bây giờ người ta lấy cây như thế nào không? Họ mang cả xưởng cưa vào rừng đó. Cây hạ đến đâu cắt, xẻ ván đến đó. Xe reo, xe tải rúc vô tận trong rừng kéo ra ngoài rồi chở đi. Thày biết sức vóc như cháu mà làm cái gì. Trong tay không vốn thì cũng chỉ đi làm thuê cho người ta thôi. Mà làm thuê ở đây còn sướng hơn. Rúc vô rừng không chết vì cây đè, cũng chết vì sốt rét. Cực lắm. Thôi cháu cứ làm cái chân chạy chợ, kiếm được miếng nào hay miếng ấy thôi…

Hai Cu nói thiệt lòng. Hắn luôn tự trách mình sức vóc không được như người ta để mà lo toan mọi việc. Kiếp bụi đời thế mà lại hay. Anh hùng cũng thua lũ đàn bà. Người ta biểu thế mà hoá ra đúng. Khi không thì tò mò, mò mẫm làm gì cái con nặc nô ấy.. Mà có hay hớm gì đâu. Bây giờ nghĩ lại còn thấy ghê. Chỉ được tí lúc chót cuộc. Chớ còn trước đó nó khắm như lọ mắm. Hai Cu không phải là kẻ bất lực. Hắn còn dư sức. Nhưng mỗi lần nằm cạnh vợ là Hai Cu nhớ lại cái mùi hôm nằm dưới cái mền rách. Tò mò một chút mà sinh tội, sinh nợ. Kể cả bây giờ, thấy vợ thay da, đổi thịt đấy nhưng hắn vẫn không làm sao xua đuổi được cái cảm giác tởm lợm hôm nào. Đã thế con vợ còn cứ hỏi: hết sướng rồi hả? Hết thương rồi hả? Hết thèm rồi hả? Không lẽ nói thực. Kệ mẹ nó , hôm nào nói thực mẹ nó ra cho rồi để nó cuốn xéo đi đâu thì đi , chớ sống gì mà như tuồng hát cải lương thế này, chán thấy mẹ. Hai Cu thừa biết dạo này con vợ mình theo thằng trai tơ trong làng. Mai tao tống cổ nó đi rồi chúng mày rước nhau về mà sống, khỏi lén lút cho khổ sở. Nhưng cái thứ đàn bà không gốc gác ấy ai mà dám rước. Nhất là đang chồng mà theo trai, ngữ ấy ai thèm. Lúc đó mới biết nhục. Hai Cu đã có lúc nghĩ đến chuyện bỏ làng này mà đi thực. Nhưng hắn lại nghĩ, kiếp người ở đâu cũng làm thuê, thay đổi làm gì cho nó mệt ra. Thôi cứ cơm ngày hai bữa, tối ngủ có con đàn bà nằm cạnh là được rồi. Dù thế nào nó cũng đã quen rồi, ngủ mà không có con đàn bà bên cạnh, coi chừng khó ngủ. Con bé dâm loàn ấy đã tạo cho Hai Cu một thói quen, hễ nằm xuống là nó thọc tay vào bẹn Hai Cu. Ôm cái của nợ ấy mà ngủ cho đến sáng. Ngay cả Hai Cu, không có bàn tay của vợ thục vào đó cũng thấy thiếu thiếu khó ngủ. Thế mà nó còn thèm, còn muốn đi kiếm chỗ khác để thỏa mãn tính đĩ thoã của nó.

            Bây giờ thì không muốn cũng sẽ phải đi thôi. Trong làng, người ta đang xôn xao chuyện di dời. Chuyện có lẽ cũng chỉ ngày một ngày hai nữa thôi. Chuyện giữa hai người chẳng còn gì để mà nói. Hai Cu xin phép về nhà. Trong nhà không có ngọn đèn. Rồi, con vợ lại chuồn vào làng rồi. Lại có một đêm thoát nợ. Hai Cu lẳng lặng thu xếp chỗ nằm .

            Đúng là vợ Hai Cu đang trên đường vào làng thực. Ánh trăng làm sáng  con đường mòn vào làng. Thấy chồng không ngăn trở gì, cô càng dẫn sâu vào trò chơi ái tình do chính cô tạo ra. Gã trai làng bây giờ đã không còn ngờ nghệch nữa. Những cuộc hẹn hò liên tục giữa hai người đã khiến anh ta thành một người tình thực thụ. Sức đang trai , gái từng trải làm sao không giúp nhau tìm đến khoái lạc được. Hai người vẫn gặp nhau dưới cây gừa bữa nào. Họ đã tạo cho mình một cái tổ đúng như tổ loài thú. Đã có một cái ổ rơm. Có thêm tấm nóp. Có cả tấm tăng phòng khi gặp mưa. Không dám làm kinh động đến làng, lâu lâu, hai người mới kéo nhau ra đây vào ban ngày. Còn những đêm trăng sáng mới là những đêm họ hẹn nhau. Mà họ thấy rõ một điều rằng chính những đêm trăng mới thực sự gợi cảm. Giữa đất trời bao la, dưới ánh trăng mát dịu, họ tha hồ tìm đến những cảm giác mạnh nhất. 

            Bao giờ gã trai làng cũng ra trước chờ sẵn ở đó. Người đàn bà kia đã khiến anh ta mụ muội rồi. Mỗi một lần làm tình là mỗi lần cô ta cho cậu những cái mới mẻ. Lần nào đến cô ta cũng truyền cho gã những cuộc chơi mới. Với gã trai, vợ Hai Cu mặc sức nghĩ ra những trò chơi xác thịt theo cách nghĩ của mình. Suốt con đường ra đến chỗ hẹn cho cô ta nghĩ ra được một cái gì đó. Nên khi ra đến nơi , cô đã đủ độ chín và đổ nhào vào người tình.

            Hôm nay cũng vậy, gã t

12 Oct, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo)

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )         

*

 

*     *

 

 

Có cái thời lạ lùng là như vậy đó. Muốn ăn một miếng thịt heo mà khổ sở đấn như vậy. Còn bây giờ làng Cầu giống như một cái chợ lớn. Những đoàn xe chở cây ra, chạy xe không vào mang theo bao nhiêu thứ mà trước đây người Bàu Cày không thấy có. Rồi nay mai ngay cả người Bà Cày cũng sẽ quên cả vùng đấy này. Vợ lão thày bói có ít chữ thế mà hay. Bây giờ cô đã vào làm chút công việc trong ủy ban. Ngoài việc nấu nước phục vụ, cô còn có việc sao chép văn thảo công văn cho những ông bà chức thì có mà chữ hơi ít trong đầu. Vợ chồng Hai Cu cũng có nhiều việc làm hơn. Hai Cu với sự nhanh nhẹn vốn có, kiếm việc làm trong lúc này không phải là khó. Vợ Hai Cu thì phụ giúp người trong làng công việc đồng áng. Làm riết thành quen. Nhưng vợ chồng hai đứa mỗi ngày một xung khắc với nhau hơn. Chắc tại chúng cưỡng duyên trời, tự nhiên tác hợp, nên cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.

 

V

 

            Phải đến năm ngày sau cô Út mới có thể gặp được ông Năm Hoàng. Ông không về Long An quê ông, mà ra Hà nội sau cú điện thoại từ Ban kinh tế trung ương. Cô Út vào phòng làm việc của ông Năm Hoàng ngay từ đầu giờ.                

            - Chú Năm.

            - Có việc gì mà Út kêu chú hà rầm vậy ?

            - Có chú Năm. Cháu không hiểu sao lại có người cản việc…

            - Cái đó chú biết rồi. Chú vừa phải ra Hà Nội cũng vì chuyện ấy đây. Họ ra ngoài ấy kiện chú đó.

            - Kiện?

            - Phải. Kiện.

            - Nhưng kiện cái gì chớ.

            - Họ biểu chú phá đường lối, làm mất đoàn kết nội bộ.

            - Trời đất.

            - Có cái gì mà phải kêu trời. Chuyện họ kiện là đương nhiên thôi .

            - Họ đúng?

            Ông Năm Hoàng cười sảng khoái:

            - Họ núp dưới bóng của các nghị quyết thì sao họ lại không đúng. Nhưng có cái đúng thiệt và cũng có cái đúng giả chớ. Ví như chuyện xây đập xây dựng hồ nước Sông Tràm chẳng hạn. Biết họ lý luận sao không: Dự án ấy có từ thời Ngụy do thằng Mỹ đứng chủ. Mình đã đánh đuổi được Mỹ rồi sao lại dùng ngay dự án của nó. Chẳng lẽ mình lại làm nô lệ cho chúng sao. Ngày xưa chúng đánh mình bằng bom đạn, không lẽ bây giờ mình mắc mưu kế hậu chiến của nó, chịu để nó tấn công mình bằng đola. Thử hỏi không đúng sao. Dự án của Mỹ. Tiền cũng vay của ngân hàng thế giới. Thế giới là của ai chớ. Thà vay tiền của Liên Xô, của Trung Quốc còn nghe được. Chớ của thế giới thì không tin được. Thế giới bây giờ theo phe Mỹ quá nửa. Thì đó, tiền vay là đola, đâu có phải là đồng Rúp, đông Nhân dân tệ đâu. Ai tán thành chắn dòng sông Tràm là theo đola, theo Mỹ. Chết họ cũng phản đối.

            Cô Út ngạc nhiên nghe ông Năm Hoàng kể chuyện. Không lẽ ông thua cái lý lẽ kia. Ông Năm Hoàng với tay lấy ấm trà rót nước cho cô Ut và tiếp:

            - Lý đúng phải không? Nhưng đó là lý gàn. Khi chúng nó có cả vạn quân, có cả chính phủ bù nhìn. Tất cả được trang bị đến tận răng, ta chẳng sợ, thì sợ cái gì những kẻ tham vọng ở đâu đâu. Cảnh giác, đương nhiên. Nhưng cảnh giác mà để bỏ phí cơ hội thì còn hơn là tội ác. Nhưng đời đâu phải chuyện gì cũng dễ bỏ qua đâu. Người ta đã nêu lý ra rồi thì chết cũng cãi cho bằng được.

            - Có nghĩa là bỏ dự án?

            - Làm sao phải bỏ. Trên quyết rồi. Bằng mọi giá phải thực hiện dự án. Huyện của Út sẽ là huyện trọng điểm đó. Ngày mốt họp thường vụ tôi sẽ thông báo chính thức. Thế nào cũng phải có cuộc hoán chuyển cán bộ.

            Thoáng chút băn khoăn trên gương mặt Năm Hoàng.

            Rừng Dương Minh.

            Cánh rừng bạt ngàn trải dài suốt từ biên giới về. Không lúc nào yên ắng. Mỹ đã vào tham chiến. Trên trời thì máy bay. Tiếng máy bay phản lực gầm thét liên miên suốt ngày.

            Chưa bao giờ ở Dương Minh có một hệ thống đồn bốt địch dày đặc đến như vậy. Dọc tuyến đường từ Gò Trảng lên cách vài cây số có một đồn địch. Đồn của Ngụy nằm xen kẽ những chốt Mỹ. Ra đường thấy binh lính nhiều hơn dân. Đồn bốt địch dóng sâu vào những vùng quê. Nơi nào có đường, nơi ấy có đồn bốt. Chúng có âm mưu xẻ dọc một vùng đất mà chúng coi là nguy hiểm nhất của chiến trường Đông Nam bộ này. Cùng với những cuộc hành quân càn quét của Mỹ là những hoạt động bám dân của Ngụy. Chúng theo dõi từng nhà. Chúng thò tay đến từng hộ. Những người thợ cạo mủ cao su bước chân ra khỏi nhà là có người để ý. Những người nông dân ra đồng có lính tuần rảo trên bờ. Huyện Dương Minh nghẹt thở. Ai cũng có cảm giác có người đi theo sau mình.

            Trong căn hầm nổi giữa rừng. Chỉ có hai người ngồi đối diện nhau. Bí thư tỉnh ủy Hai Thanh, thấp , đậm,  đen và có một cặp mắt một mí. Ông không có dáng của một cán bộ cấp cao. Giống giống với một ông chủ đồn điền hơn. Cũng không ai ngờ được rằng ông là một thày giáo. Ông đã từng gõ đầu trẻ ngay ở huyện Dương Minh này. Một trường được những ông chủ người Tây mở ra để dạy lũ trẻ con đám người có máu mặt ở mấy đồn điền cao su. Ông tranh thủ những ngày ấy để kể cho lũ trẻ nghe về đất nước Việt Nam, về con Lạc, cháu Hồng.

            Đùng một cái, cách mạng tháng Tám nổ ra, người ta mới biết ông là một trong những đảng viên đầu tiên của xứ sở này. Ông kéo cờ đỏ sao vàng kêu gọi công nhân cao su cướp lại đồn điền của chủ Tây, đuổi chủ Tây đi, làm chủ tất cả những vườn cây cao su. Nhưng rồi Pháp quay lại. Núp sau những đoàn quân đầy đủ súng ống đạn dược, chủ Tây quay về lấy lại những gì đã mất, còn ông thì lên rừng đi kháng chiến.

            Người thứ hai là Năm Hoàng. Năm Hoàng hoàn toàn khác biệt với ông bí thư. Cao lớn, khoẻ mạnh và có một gương mặt thực sáng sủa. Trước ông bí thư tỉnh ủy, Năm Hoàng đang phải chịu đựng những cơn nóng giận của ông.

            - Anh nói đi. Vì sao anh lại giới thiệu Tám Khang làm bí thư huyện ủy. Có phải giữa anh và hắn có mối quan hệ đặc biệt gì không? Anh phải biết huyện Dương Minh hiện đang trong hoàn cảnh như thế nào chớ. Mới làm bí thư chưa đầy nửa năm, hắn đã chiêu hồi, đã đầu hàng rồi. Bây giờ huyện Dương Minh coi như trắng rồi đó. Anh hài lòng vậy sao?

            Năm Hoàng không còn biết nói năng sao. Đúng, cách đây nửa năm, Năm Hoàng đã đứng ra bảo lãnh để đưa Tám Khang xuống làm bí thư huyện ủy. Làm công tác tổ chức, Năm Hoàng cho rằng việc đưa Tám Khang xuống đó là hợp nhất. Hắn là người ở đó. Quen thung, quen thổ. Bản thân hắn khá rành đường đi nước bước ở Dương Minh. Hơn thế nữa, từ hồi nào đến giờ, hắn là người rất năng nổ với công việc. Năm Hoàng tin Tám Khang. Nhưng con người ta đúng là khó hiếu hết được. Xuống Dương Minh đựơc một thời gian, Tám Khang đã lộ dần tính cách của mình. Cho đến một hôm, tin sét đánh làm dúng động căn cứ tỉnh ủy: Tám Khang chiêu hồi. Trong một ngày, toàn bộ căn cứ tỉnh ủy phải dời chuyển đi chỗ khác. Nhưng căn cứ tỉnh ủy còn dời được, còn căn cứ huyện Dương Minh không thể dời nhanh như thế được. Trong một ngày, căn cứ huyện bị đánh phá tơi bời. Hình như địch không tiếc gì súng đạn và bom. Hết máy bay ném bom, lại đến pháo bắn vào. Một góc núi Bà. Nơi đóng cứ của huyện ủy Dương Minh giống như bị một trận động đất lớn. Đá đất bị bốc xới, cây cối bị mảnh bom mảnh đạn xé nát. May mà thương vong không đáng kể. Nhưng nguy hiểm hơn, tất cả cán bộ cơ sở của huyện đều bị lộ. Tin truyền khá nhanh, nên một số anh em chạy thoát được lên rừng. Số còn lại hầu hết là bị bắt. Một số khác chống cự bị chúng giết tại chỗ.

            Năm Hoàng ngẩng đầu nhìn bí thư Hai Thanh:

            - Anh cho tôi đi giết thằng Tám Khang…

            - Một mình anh?

            - Dạ. Một mình tôi thôi.

            - Cậu điên hả. Diệt thằng Tám Khang là chuyện phải làm rồi. Nhưng không thể manh động được. Tôi đã cho người đi tìm xem nó hiện giờ đang ở đâu. Chỉ nay mai là biết tin thôi. Đến lúc đó rồi tính. Trước mắt, cậu làm kiểm điểm cho tôi về cái chuyện giới thiệu Tám Khang làm bí thư Dương Minh đi.

Năm Hoàng kể lại chuyện ấy bằng một giọng buồn buồn. Cô Út ngồi nghe và cũng buồn thay cho ông. Sai lầm của việc dùng người rõ ràng có hại đến cả sinh mạng con người.

            - Rồi sao nữa chú Năm - cô hỏi

            - Bảy ngày sau thì có tin chính xác, Tám Khang đang ở Ty chiêu hồi ngoài thị xã. Hắn được bảo vệ nghiêm ngặt hết sức. Hôm bắt được hắn về, chú xin với bí thư tỉnh uỷ được trực tiếp xử hắn. Không gì đau bằng việc mình phải cầm súng bắn vào người đã từng là đồng đội mình. Nhất là với Tám Khang. Đồng chí bí thư tỉnh uỷ nói đúng, giữa chú với Tám Khang quả là có cảm tình đặc biệt thực. Bạn cùng học trường Nam trung học. Vào rừng đi kháng chiến một ngày. Bữa thoát ly, hai đứa còn rủ nhau đi qua cổng trường. Mắt đứa nào cũng rơm rớm nước mắt. Tiếc thực, nhưng đã quyết chí rồi phải đi thôi. Chú đã tin hắn giống như tin mình vậy. Ai dè, chỉ chốc lát thôi, hắn đã thành kẻ thù của mình. Quả thực, nếu không nhớ đến hai chữ kẻ thù, thực tình chú cũng không dám xiết cò đâu. Chú giật chiếc khăn bịt mắt của Tám Khang ra để hắn nhìn rõ mặt chú. Nhìn gương mặt đã bạc đi của hắn, chú lại thương. Một con người như hắn sao lại có thể phản bội anh em đồng chí được chớ. Chú hỏi hắn có mong muốn gì nữa không. Hắn run run trả lời rằng: hắn còn lo cho vợ con. Cách mạng có xử hắn thì xử, nhưng đừng làm hại đến vợ con hắn. Chú biểu hắn: Cách mạng bao giờ cũng sòng phẳng. Ai có tội, xử người đó. Hắn cứ yên tâm mà chết. Hắn xin chú một đặc ân, cho hắn uống thêm một ngụm nước. Chú cho. Thấy hắn hứng từng miếng nước trong cái lon gô mà thương. Hắn làm như từ lâu lắm rồi không được uống nước. Uống xong, mặt hắn tươi tỉnh lại được một chút. Hắn ngước lên nhìn trời và rồi oà lên khóc. Hắn khóc nức nở như một đứa con nít bị đòn oan vậy. Nhưng còn oan nỗi gì nữa. Một căn cứ bị phá nát. Ba đồng chí cán bộ xã bị bắt. Một đồng chí bị chúng mang ra giữa chợ mổ bụng moi gan. Một đồng chí bị chặt đầu mang bêu ngoài chợ. Một đồng chí nữa bị đầy đi đâu xa lắc, mất tăm, mất tích cho đến tận hôm nay. Chú đã nói với hắn như vậy trong lúc bịt mắt hắn lại. Mà thôi, không nhắc đến chuyện ấy nữa. Nó là một kỷ niệm buồn của chú đó Út.

            - Còn với anh Ba Thiệt?

            - Theo chú thì phải chuyển anh ấy sang công tác khác. Mà mỗi lần tính bố trí người là mỗi lần chú nhớ đến Tám Khang. Ngày xưa sai lầm một chút là chết người. Bây giờ sai lầm có thể không chết người nhưng có thể làm trì trệ công việc. Không còn như hồi chiến tranh. Mọi công việc đâu có thể tự mình quyết đoán hết. Mà quyết đoán theo kiểu anh Ba thì hỏng hết mọi chuyện. Tỉnh mình vốn là một tỉnh nông nghiệp. Đất mình là đất miền Đông, sáu tháng nắng, sáu tháng mưa. Đồng đất chỉ xanh được vài tháng trong năm, thì dân mình còn là đói. Làm ruộng mà chỉ chờ trời thế này thì còn đói dài dài. Huyện của Út năm này nữa là năm thứ ba phải trợ cấp lương thực rồi phải không? Còn đợi trợ cấp đến bao giờ nữa đây. Cho nên, chuyện xây hồ nước là nhất định phải làm. Trung ương không lo cho ta, thì ta cũng phải tự lo. Làm lớn không được thì phải làm nhỏ. Cái lý của chú là như vậy, nhưng yên  tâm đi. Trung ương đã quyết rồi. Giai đoạn một dành cho tỉnh Tây Nam chúng ta. Giai  đoạn hai sẽ còn phải mở rộng thêm sang tỉnh bạn nữa kìa. Anh Ba Thiệt chưa thấu đáo chuyện này thì phải làm cho ảnh thấu đáo. Nhưng việc gấp rồi, nếu cứ phải ngồi mà tranh luận mãi sẽ không đâu vào đâu hết. Út, cháu chuẩn bị tinh thần gánh chịu mọi công chuyện đi. Chú biết cháu sẽ vất vả, nhưng không thể khác được. Ngày mai, chú sẽ đưa chuyện này ra thường vụ tỉnh ủy để cùng bàn.

 

*

*           *

            Đó là chuyện cách nay đã ba năm. Ngày ấy, không đơn giản như ông Năm Hoàng tưởng. Khi đưa chuyện phải chuyển Ba Thiệt sang làm công tác khác, có ngay những ý kiến phản đối. Họ cho rằng sức vóc của cô Út chưa đủ để lãnh đạo một huyện. Từ hồi nào đến giờ chỉ tham gia chiến đấu, chưa qua lớp đào tạo nào mà phải làm kinh tế ở một huyện phức tạp như thế khó mà hoàn thành nhiệm vụ. Có người nói thẳng ra rằng đứng đầu một cơ quan huyện không thể là một phụ nữ được. Ông Ba Thiệt có chút ít bảo thủ thực, nhưng ở đó vẫn cần đến ông ta.

            Ông Năm Hoàng biết chưa thể lay chuyển được suy nghĩ của số đông trong thường vụ tỉnh ủy, dành gác chuyện chuyển Ba Thiệt đi nơi khác.

            Cũng đúng như Năm Hoàng nói, không thể dừng việc xây hồ Sông Tràm được. Công trình đã xây dựng được ba năm nay.

Hôm nay, ông kêu văn phòng lấy xe đưa ông xuống huyện Cái Bưng . Ông không xuống ngay cơ quan huyện mà kêu cậu lái xe đưa ông đi một vòng quanh huyện. Xuống huyện này chỉ có một khúc ngắn đường đã trải nhựa. Tất cả vẫn còn nguyên giống như sau chiến tranh. Làng Chà nằm cách thị xã không bao xa mà vẫn lộ rõ là một mảnh đất còn quá nghèo. Đường không ra đường. Dọc đường là những bãi phân bò và những tảng đá lót đường đã phơi lộ ra. Làng Cầu, làng Phú Mỹ, hơn được chút ít vì có những lô cao su và những ngôi nhà của thợ được cất thành từng dãy. Lên làng Lộc thì vẫn vắng teo, lơ thơ vào nóc nhà ven đường, còn thì ở sâu tút lút mãi đâu. Sang làng Phước vẫn là rừng. Rừng đã bị chặt phá để lộ ra những khoảng đất trống đang được người dân tận dụng trồng khoai mì. Lâu lâu mới thấy một vài người đi lại trên đường.

            Huyện Cái Bưng có nhiều cái khác. Một nửa diện tích của huyện là rừng. Một nửa kia còn đất ruộng có thể gieo trồng lúa vào mùa mưa. Người Cái Bưng sống chính bằng hai nghề, cày ruộng và lên rừng lấy gỗ. Thường thì họ làm ăn  trên ruộng mình. Nhưng hiện nay, ruộng được tổ chức vào các tập đoàn sản xuất. Họ kéo nhau vào rừng đi làm thuê cho các chủ thầu cắt cây. Chỉ vài năm sau chiến tranh thấy rừng đã bị khoét lủng rất nhiều. Chiếc xe của Năm Hoàng vẫn lướt trên con đường gồ ghề, loang lổ những ổ gà, ổ voi. Mấy năm hoà bình chưa làm được việc gì cho ra việc. Tất cả vẫn còn bề bộn. Những nơi bom đạn ác liệt xưa vẫn còn nguyên những hố bom. Những cây cầu bị phá hồi chiến tranh mới gác cây lên để đi tạm. Lâu lâu mới thấy một nhóm nhà. Những mái nhà tranh bạc phếch vì nắng gió. Công trường xây dựng hồ Sông Tràm đang được thi công ở phía Nam huyện. Phía thượng nguồn Sông Tràm, bắt đầu việc đắp đập chính và tập kết vật tư cho cho xây cửa đập. Tình hình nội bộ lãnh đạo huyện chưa thực ổn. Ông Năm Hoàng phải trực tiếp bám huyện này để chấn chỉnh dần.

            Khu văn phòng làm việc của cơ quan huyện Cái Bưng có lẽ là nơi khang trang nhất của huyện này. Những phòng làm việc cách nay ba năm đã được phá bỏ để thay vào đó là một dãy nhà một trệt, một lầu được cất theo lối cũ với những mảng tường đá rửa nham nhở và mốc meo. Những tấm bê tông đổ dày dặn nặng nề khuôn thước. Khu văn phòng ủy ban cũng đã được xây sang bên này, tạo thành một khối làm việc gọn gàng hơn. Đất của ủy ban trước đây, bây giờ đã được giao cho trung tâm giáo dục thường xuyên và mở trường dạy nghề.

Chiếc xe Năm Hoàng bị ách lại trước cổng. Người gác cổng là một cậu thanh niên còn trẻ. Trước mặt cậu ta là một cái bàn con. Trên đó có một cuốn sổ lớn và sau lưng cậu ta là một khẩu AK treo trên vách.

            Anh lái xe nhảy xuống nói với người gác cổng:

            - Xe của chú Năm bí thư. Mở cổng cho chú Năm vô. Lẹ …

            - Giấy tờ đâu?

            - Trời đất, xe chú Năm mà cũng cần giấy tờ hay sao?

            - Chú Năm , chớ chú Mười Lăm cũng phải giấy tờ…

            Ông Năm Hoàng phải bước xuống:

            - Tôi không có giấy tờ gì hết. Cậu vô báo với cô Út, hoặc anh Ba là có Năm Hoàng xuống làm việc.

            - Đâu có được. Nhiệm vụ tôi là gác ở đây. Tôi vô báo là bỏ gác, là sai trách nhiệm… Chờ đó đi, có người vô tôi nhắn cho.

            Ông Năm cười:

            - Cậu này nguyên tắc gớm. Thôi nè, có gói thuốc đây cậu làm điếu rồi vô báo giùm tôi, được không?

            - Không được. Nhất là không được nhận quà cáp. Mời đồng chí đứng ra ngoài cổng giùm tôi.

            Anh lái xe nóng mặt:

            - Thằng điên. Mày gác cổng thì phải biết lúc nào nguyên tắc, lúc nào không chớ. Chú Năm bí thư là người thế nào mà mày cũng không biết sao?

            Ông Năm Hoàng gạt ra:

            - Đừng nóng. Cậu ấy không biết đâu có lỗi của cậu ấy. Tại mình. Mình thường xuống đây thì ai lạ mình. Thôi được ráng chờ chút coi.

            Anh lái xe hình như không còn chịu được nữa, bước lên xe bấm kèm kêu inh ỏi. Từ trong văn phòng có người bước ra. Anh chánh văn phòng có dáng người cao to, khoẻ mạnh đang chạy tới xăm xăm. Anh ta nhận ra ngay xe của ông Năm Hoàng. Vừa chạy ra, anh ta vừa hối:

            - Mở cổng. Mở cổng ngay. Lẹ lên.

            Cậu gác cổng lật đật gỡ sợi dây ra khỏi cáo móc. Cây tre chắn xe, có cục đá ở đầu kia được hất lên. Xe ông Nam lách vào. Ông Năm Hoàng bất giác mỉm cười. Đời còn những cái barie cũ rích này thì còn lắm chuyện.

Anh chánh văn phòng xoa hai tay vào nhau và gật đầu chào. Chiếc xe vừa khuất đã nghe tiếng anh ta quát:

            - Ngu. Ngu cũng chừa cho người ta ngu với. Đầu của tao, của mày có còn trên cổ không là ở ổng đó, biết không?

            Nói xong anh ta lại tất tả chạy vào cho kịp với chiếc xe của ông Năm Hoàng. Cậu gác cổng tròn mắt nhìn theo miệng lẫm bẩm:

            - Làm cái gì dữ ?         

            Anh chánh văn phòng đón ông Năm đưa vào một căn phòng nhỏ và nói:

            - Chú Năm chờ con một chút. Để con báo cho chú Ba và cô Út.

            - Đang họp hả- Ông Năm hỏi.

            - Dạ. Đang giải quyết vụ rừng lịch sử , chú Năm.

            - Vụ rừng lịch sử? Chuyện sao?

            - Dạ con cũng chưa biết. Để xong cuộc họp này, có lẽ sẽ có văn bản báo cáo và xin ý kiến tỉnh ủy.

            Trong phòng họp, không khí như căng thẳng thêm khi cô Út lên tiếng:

            - Tôi đề nghị xem xét lại cho kỹ việc này. Tôi không thống nhất chuyện phải đưa vụ rừng lịch sử ra để xét xử. Các đồng chí thử phân tích coi, rừng trồng xuống đâu có phải lên ngay. Nó phải chờ năm, chờ tháng mới có thể thành rừng được. Vậy thì đất trống ở giữa những tán cây ấy làm cái gì? Công nhân họ có thả cây mì xuống đó, cũng là lấy ngắn nuôi dài thôi. Một vài người trong lúc chờ giống cây, họ có thể dùng đất lâm trường trồng trọt để nuôi sống mình, gia đình mình thì cũng có lỗi gì đâu…

            Ông Ba Thiệt không để cô Út nói hết lời đã đứng dậy:

            - Tôi không thể hiểu được tại sao đồng chí Út lại có thể non nớt, ấu trĩ đến như vậy. Đất trống cũng là đất nhà nước. Mà đã là đất của nhà nước thì chỉ có nhà nước mới có quyền tận dụng. Thử hỏi, đất trồng rừng mà trồng xen trong đó khoai mỳ, nó bạc đất đi, cây làm sao lên được. Rồi khi thu hoạch khoai mỳ, nhà nước được cái gì. Hay toàn bộ tiền thu khoai mỳ lọt vào tay cá nhân. Như vậy là phá hoại. Đúng vậy. Phá hoại, không có cái từ nào khác hơn. Còn lấy đất chưa trồng rừng mà trồng trọt lại càng sai phạm, mà là sai phạm nghiêm trọng nữa kìa. Tôi xin nhắc lại. Đất là của nhà nước. Cấm bất cứ ai xâm phạm. Vậy mà ngang nhiên người này vài mẫu, người kia vài mẫu. Giám đốc lâm trường sao có quyền ký hợp đồng cho mượn đất. Ai cho phép. Huyện ủy có chủ trương không? Ủy ban có cho phép không? Huyện uỷ mà có chủ trương thì phải kiểm điểm xem ai là người chủ trương. Ủy ban mà cho phép thì kiểm điểm ủy ban. Làm cho rõ trách nhiệm. Thứ hợp đồng này giống như một thứ tham ô trá hình. Phải. Tham ô. Mà đã tham ô thì truy tố còn có thể nào khác được. Tôi nói thêm chuyện này nữa: Ai là người cấp cái ao cá cho cậu giám đốc lâm trường? Ai vậy. Tại sao các đồng chí không rõ cái ao cũng là tài sản của nhà nước. Các đồng chí biểu đó là cái ao tự nhiên ư. Tại sao cậu giám đốc lâm trường nuôi cá trong đó lại lớn nhanh như vậy. Một tài sản qúy như vậy mà sao lại cấp cho tư nhân? Ngay sau cuộc họp này, các đồng chí bên ủy ban làm thủ tục thu hồi ngay lại cho tôi.

            Cô Út hình như không còn chịu được nữa. Cô ráng ngồi nghe ông Ba Thiệt nói cho đến cạn lời mới đứng dậy:

            - Thưa các đồng chí. Sao các đồng chí lại chụp cho người ta cái mũ to như thế. Các đồng chí thấy bấy lâu nay công nhân lâm trường có còn kêu ca vì đời sống khó khăn không. Các đồng chí có thấy mấy trăm héc ta rừng đang lên rất xanh, rất tốt không? Thấy, sao không thấy ai thử tìm hiểu xem tại sao lại được như thế? Chúng ta biết nay mai cả vùng làng Bàu Cày sẽ trở thành một hồ nước. Tất cả rừng ở đó sẽ bị dìm xuống nước. Chúng ta mất đi hàng ngàn héc ta rừng, nay mới chỉ trồng được có vài trăm heata. Mà vừa mới trồng lên chút chút, người chỉ huy ở đó đã bị quy kết là tham ô, là phá hoại, thử hỏi làm sao ta có thể phát động nhân dân trồng rừng nữa. Tôi đề nghị chuyện này sẽ phải báo cáo lên trên. Xin ý kiến của tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh. Riêng tôi, tôi bảo lưu ý kiến cho lâm trường tiếp tục trồng rừng, trồng xen canh và cho mượn đất  để dân canh tác. Khi trồng rừng đến đâu thu hồi đến đó. Riêng chuyện cái ao cá, tôi là người ký cấp cho anh giám đốc lâm trường đó. Tôi nghĩ là không sai. Khi cải tạo ao, chính cậu giám đốc đã mời nhiều người trong ủy ban huyện cùng đầu tư kia mà. Anh Mười Mạc phó chủ tịch nè. Anh Tư Bông bên kiểm tra đảng nè. Anh Bảy Mót bên tuyên huấn nè. Có ai chịu làm đâu. Anh ấy làm và thu hoạch lớn, nay ta thu hồi lại , chẳng hoá chúng ta không giữ được chữ tín sao?

            Ông Ba Thiệt khoát tay:

            - Tín với anh ta thôi ích gì. Phải giữ tín cả với đảng bộ, với nhân dân mới quan trọng. Chúng ta chống những mầm mống tư bản chủ nghĩa đến cùng. Một lối làm tư nhân như thế mà chúng ta dung túng là không được. Dù thế nào cũng phải thu hồi cái ao lại. Việc trồng rừng cứ trồng rừng. Việc kỷ luật vẫn phải kỷ luật. Không có giám đốc này, ta kiếm giám đốc khác. Tôi đề nghị các đồng chí bên thanh tra nhà nước bắt đầu vào cuộc trước. Khi thấy có đủ yếu tố vi phạm kỷ luật thì có hình thức kỷ luật ngay, sau đó làm thanh tra tiếp để tìm yếu tố phạm tội. Cứ thế mà làm.

            Thấy câu chuyện có vẻ còn kéo dài, anh chánh văn phòng phải ghé tai ông Ba Thiệt nói nhỏ mấy tiếng. Ông Ba quay sang biểu cô Ú

18 Jul, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM - tiểu thuyết NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( tiếp theo)

 

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

 

 

            Không thể đi tu, cô càng quẫn bách hơn. Nên cô tìm đến thày bói. Cô muốn thử xem mình rồi sẽ ra sao. Thày bói trước biểu cô có vận, có hạn làm cô thẫn thờ lo. Nay ông thày bói này lại khác. Ông không coi tiền vận, cũng chẳng nói hậu vận mà toàn là chuyện đâu đâu.

            - Tôi nói thiệt nghe. Hai mắt tôi mà sáng, tôi không ngồi đây đâu. Tiền vận là gì, mà hậu vận là gì. Tôi còn chẳng biết tôi rồi sẽ ra sao, làm sao tôi biết cho ai. Đời người ai chẳng có lúc buồn lúc vui. Buồn cũng tìm đến thầy bói. Vui cũng tìm đến thày bói. Thế cô định xem chuyện vui, hay chuyện buồn đây?

            Cái ông thày bói này nói chuyện sao mà giống anh ấy thế. Một lần ngồi cạnh anh trong quán cà phê anh cũng đã nói:

            - Em có thấy không, đời người không có được là bao, thế mà sao cứ phải làm khổ nhau. Em đừng thấy tôi cười mà ngỡ tôi đang vui nghe. Có em, tôi mới cười được. Chớ không có em, tôi chẳng biết cười cùng ai. Với đồng nghiệp giả lả nói cười để người ta đừng coi mình là lập dị. Thế thôi.

            Những lúc đó gương mặt anh mới đáng thương làm sao. Ánh mắt anh nhìn đâu đó xa xăm. Ngày ấy, cô đâu có biết chuyện gì. Thấy anh buồn, cô nói chuyện cho anh vui. Sau này mới biết, vợ anh ở nhà chán cảnh xa chồng đã tìm đến người khác. Tin ấy đến với anh, anh dửng dưng như không. Những ngày ấy, anh siêng tìm đến cô. Đã có lúc anh nhìn sâu vào mắt cô, không nói gì cả. Bây giờ thì cô biết, anh đã tự chặn lòng mình không nói ra cái điều rất cần phải nói. Lúc đó cô mới mười sáu tuổi. Cái tuổi mới chỉ thấp thoáng thấy tình yêu. Trái tim thỉnh thoảng lại phập phồng khi bỗng nhớ. Có thể vì thế mà anh không nói.

            Ông thày bói vẫn với cái giọng của kẻ cả bảo ban. Chưa bao giờ cô lại chịu ngồi nghe người ta nói nhiều như thế. Thời gian sao trôi đi quá nhanh. Bỗng nhiên cô có cảm giác hình như không còn muốn xa ông thày bói lập dị này nữa. Bỗng nhiên cô cảm thấy tin ở ông thày bói này. Không phải tin ở những lời tiên đoán, mà tin ở chính bản thân ông. Tin ở những lời ông khuyên bảo. Ngay hôm đó cô đã mường tượng ra nơi nương tựa của đời mình.

            Những ngày sau, cô đến phụ giúp lão thày bói những công việc vặt, chăm chỉ như những khi cô lên chùa. Rồi chẳng cần phải cưới hỏi lôi thôi, cô vể ở hẳn đó và xin được làm vợ lão. Chuyện thực hy hữu, nhưng đời chuyện gì mà chẳng có.

            Đó là một ngày trời mưa. Sao trời lại mưa chớ. Những cơn mưa bất chợt nhiều khi làm cho cả thế giới này điên đảo. Có khi làm điên đảo cả một kiếp người. Trời mưa vào lúc chập tối. Cái nhà nhỏ của lão thày bói trong cơn mưa giống như một chiếc lá khô trước cơn gió lớn. Những khối nước hình như cứ nhè cái mái nhà của lão mà dội xuống. Lão thày bói không biết những trận mưa trước nhà lão ra sao. Lão chỉ có một mình. Còn hôm nay có thêm một cô gái. Cô dắt lão lại chiếc giường duy nhất trong nhà,bắt lão ngồi xếp bằng trên đó. Còn cô thì bước sang bên này dẹp cái dây phơi quần áo cho gọn lại kẻo bị tạt nước. Chạy qua bên kia che lại cái cửa sổ. Vào bếp thu dọn ba thứ nồi ơ, xoong chảo còn nằm dưới đất. Lại bên cái bàn thờ thắp một nén nhang và che lại chỗ nước từ mái nhà đang nhểu xuống qua một lỗ đinh do thợ đóng vụng. Hai tai lão thày bói nhóng lên lọc nghe bước chân của cô:

            - Này cô. Khỏi dọn dẹp gì đi. Ngồi mà nghỉ. Mưa hoài tôi biết rồi mà. Mai nắng, mọi chuyện sẽ qua thôi…

            - Qua là qua sao được- Cô cãi.- Ông mà ở thế này, có ngày chết trôi .

            - Chết thế quái nào được. Cô tưởng chết dễ lắm hả.

            Ông bắt đầu bài diễn thuyết của mình về cái chết và cái sống. Ông diễn thuyết cho đến hết ý để nói. Có ai hiểu ông lúc đó đâu. Bao nhiêu năm ở một mình, bỗng trong đêm, dưới mưa có thêm người con gái, ông cảm thấy lo lắng. Một cảm giác ấm áp lan toả trong ông, nhưng ông lúng túng không biết nói năng sao cho ra cái cảm giác đó. Nên ông đành cứ nói về cái sống, cái chết cho qua dần thời gian.  Cô dọn dẹp đến hết cái để mà dọn dẹp. Thế mà trời vẫn cứ mưa. Mưa mỗi lúc một lớn. Cô lại cái trõng mà ông thường ngồi bói. Bây giờ cô mới thấy lạnh. Trên mình cô chỉ có một chiếc áo mỏng. Hồi nãy đến giờ nước mưa tạt đã làm cho ẩm, ướt. Cô ngồi trên cái trõng ngóng ra ngoài mưa. Trời đang tối dần. Đèn đường đã bật sáng. Những chiếc bóng đèn tròn trong cơn mưa chỉ như một đốm lửa trên đầu thuốc điếu thuốc lá.

            - Lạnh lắm hả?- lão hỏi

            Mà sao lão lại biết là cô lạnh chớ. Thì tại trời mưa. Tại nhà hẹp, nước tạt. Tôi cam đoan là cô ẩm ướt khắp người rồi. Hình như cô nghe thấy lão nói như vậy với cô.

            Cô không trả lời. Lạnh thiệt. Nhưng làm sao cho ấm bây giờ. Cô bỗng lọc trong tiếng mưa tiếng bước chân của lão thày bói. Rồi cô thấy có một chiếc mền khoác lên vai cô:

            - Nhà chỉ có một chiếc mền thôi. Tôi đâu nghĩ rằng trong nhà này thêm một người thứ hai nữa đâu. Cô thông cảm nghe.

            Sao lại phải thông cảm. Có một chiếc mền đã khoác lên vai cô rồi. Miếng ấm áp duy nhất cô đã nhận về phần mình, lẽ ra người thông cảm phải là lão mới đúng chớ. Cô biết lão cũng đang lạnh lắm. Mưa xầm xập không ngớt một chút nào. Lại gió nữa. Cái nhà của lão không đủ lớn để che hết những giọt mưa của đất trời. Nói gì thì nói, mưa nhiều khi trở thành một bức màn che, một cái cớ để cả vạn cặp trai gái lợi dụng. Mưa có khi còn là kẻ đồng loã với tội lỗi. Nhưng phần lớn, mưa là kẻ kết dính những kẻ có cảm tình với nhau. Cô gái thấy không thể chiếm lĩnh nguyên cả chiếc mền của lão thày bói được. Cô bước vào giường và trong ánh đèn lờ mờ, cô thấy lão đang co quắp như con tôm. Hai tay lão khép vào đùi. Đầu lão rúc vào chiếc gối. Cô choàng lại chiếc mền cho lão. Lão kêu lên:

- Không được. Cô đắp đi. Tôi chịu được mà.

- Không. Ông đắp đi. Tôi chờ một lát ngớt mưa rồi tôi về.

            - Mưa này hả? Tới sáng chắc gì đã ngớt. Thôi hay bây giờ vầy. Tôi quay đầu về bên này, cô quay đầu về bên kia. Đắp hai chân cho ấm là được rồi. Tôi nghe người ta biểu, trời lạnh giữ ấm được hai chân là ấm cả người đó. Thử coi.

            Cũng chẳng còn cách nào hơn. Cô ngồi tựa vào vách và luồn hai chân vào trong mền. Còn lão thì nằm xuống đắp cái mền kín cả thân mình. Nhưng trời đất ơi. Trời sinh ra đàn ông đàn bà không tình không ý mà gần nhau rồi cũng nẩy tình nẩy ý thôi. Ngồi riết đau lưng, cô cũng ngả mình xuống. Cô đâu có biết lão thày bói đã ráng nằm không đụng cựa, sợ đụng chạm vào cô và không tài nào ngủ được. Một thứ hương lạ từ người con gái cứ thoảng vào mũi lão. Lão khó chịu. Đến khi cô ngả mình xuống thì cả thân thể lão nóng ran lên. Người lão cứng đơ như khúc củi. Lão nhè nhẹ tránh ra xa. Nhưng chẳng thể nào tránh được. Lão thấy một nửa mình cứ râm ran. Râm ran. Bên cạnh, cô gái cũng không thể nào ngủ được. Cái giống không ngủ được lại hay gọ ghẹ đụng đậy. Mà đã gọ ghẹ đụng đậy lại va chạm. Mỗi cái đụng chạm lại làm cho hai thân xác giật mình, run bắn lên. Bỗng lão thày bói ngồi dậy xoay người lại ôm lấy cô. Cô đẩy lão ra. Cả hai cứ thầm lặng làm một cuộc vật lộn. Cô thì đẩy, còn lão thày bói thì ghì xiết lấy cô. Bàn tay thô bạo của lão bắt đầu sờ nắn trên người cô. Bàn tay đụng đến đâu là cô có cảm giác như bị điện giật đến đó. Cô cứ đẩy còn lão cứ quờ tay tìm cô. Lão tìm khắp nơi, cho đến khi lão tìm được chỗ cần tìm. Lúc đó thì cô ngay đờ người ra. Miệng muốn hét lên nhưng lại không hét được thành lời. Cô cứ há hốc miệng ra và ráng đẩy cho được lão ta. Nhưng hình như tay cô yếu lắm thì phải, cô không thể thoát ra được khỏi vòng tay lão. Cuối cùng cô chặc lưỡi: thôi mặc kệ, tới đâu thì tới. Đời người con gái đằng nào cũng phải một lần. Vả lại, lúc này không ai gần gũi cô hơn lão thày bói. Chẳng yêu thương gì, nhưng cũng chẳng đến nỗi chán ghét lão. Cô tưởng tượng đến anh giáo mà cô yêu trộm, nhớ thầm. Cô nghĩ đến anh. Cô tưởng tượng ra anh đang ôm ấp, yêu thương cô. Cô rên khẽ:“ Anh ơi “. Rồi cô buông xuôi.

            Cả nhà cô ngạc nhiên khi thấy cô dẫn một người mù về nhà và tuyên bố: cô sẽ lấy ông ta làm chồng. Cả nhà bấy lâu nay đã coi cô là người bị tâm thần, nên chẳng coi đó là chuyện đứng đắn. Chắc nó bị khùng thiệt rồi. Và cô khùng thiệt khi cả nhà không chịu làm đám cưới cho cô. Cô dắt người đàn ông mù ấy ra đường và đi luôn không về nhà nữa. Tâm thần ai chấp. Nhưng thời gian sau, cả nhà biết cô không tâm thần. Cô đã lấy chồng. Một anh chồng ngồi coi tướng số cho người ta.

            Giải phóng được ít năm , thấy sống ở cái ngõ hẹp kia chẳng thể làm gì , hai người kéo nhau lên rừng ở. Nghe ở Bàu Cày có một cánh đồng hoang. Thế là họ đến lập nghiệp ở đó. Làm hàng xóm với cặp vợ chồng trẻ kia. Ban đầu chính quyền cũng đến hỏi han. Nhưng rồi, thấy một lão mù xem bói và một cô vợ , chẳng thể hại đến ai, nên cho qua. 

Tại quen rồi nên người ta cứ gọi lão bằng lão. Từ ngày có người chăm sóc lão bỗng như người lột xác. Trước đây, lão tự hành xác mình cho giống như một cây khô. Mọi thứ  trên người lão cũ kỹ đến mức không còn nhận ra được mầu sắc nguyên thủy của nó. Không biết chiếc áo kia mầu đen hay mầu nâu. Không biết chiếc quần lão mặc màu trắng hay mầu vàng. Bàn tay lão giống như một cành cây khô. Từng đốt xương nổi gồ lên. Những cái móng tay xám ngoét.. Không ai biết gương mặt của lão đang buồn hay đang vui. Người ta làm thày bói thì đeo một cặp kiếng đen, còn lão, lão chẳng cần đến cái kiếng. Lão biểu mọi người: mình đẹp hay xấu, mình đâu có thấy. Đeo kiếng hay không đeo kiếng thì có gì quan trọng. Hai mắt lão giống như  hai cái hố vậy. Còn tròng ngươi, đã trắng xác, tròng đen chỉ còn như vành trăng khuyết ở mỗi bên. Khi gặp cô lão biểu: phải làm cho hình dạng mình như vậy người ta mới tin mình làm được thày bói. Cô xem có ông thày bói nào ăn mặc lịch sự đâu, lúc nào cũng dơ dơ bẩn vậy mới giống như người cõi khác đến nhìn chuyện âm dương, tiền vận hậu vận. Nhưng bây giờ thì khác hẳn. Ngoài cặp mắt như đã tả ở trên, tất cả đã khác xưa. Quần áo lúc nào cũng tươm tất. Hai má đã có thịt. Vai đã u lên, trả lão về với thời mạnh khỏe khi xưa. Nếu không có người dắt đi thì không ai biểu lão mù. Những bước chân mạnh bạo , khoẻ mạnh. Giọng nói thì sang sảng kèm  theo những câu pha trò hóm hỉnh. Lão về đây tính bỏ luôn nghề bói toán, như những ngày đầu chờ vợ đi làm thuê và mót lúa , thương quá, lão mới lại tiếp tục công việc cũ. Hồi đó, chẳng ai quan tâm gì đến lão. Không ai chê trách gì chuyện mê tín dị đoan. Vả lại, lão xem bói cho người ta không lấy tiền, mà lấy tất cả những gì người ta cho. Cho chớ không phải để cúng ma, cúng qủy gì hết. Lão nói thẳng với người đến coi bói như vậy.

Nghèo thế mà làng Bàu Cày vẫn có người đến ở. Giống như nước chảy chỗ trũng vậy.

 

III

 

            - Con về đó hả? Út.

            - Dạ…

            - Người ta lại mới mang đến cho con lá thơ. Má cất trong phòng con đó.

            - Dạ. con cảm ơn má.

            Chẳng cần phải coi, cô Út cũng biết thơ đó là của ai. Từ Hà Nội gởi vào. Anh này kỳ thiệt. Vợ con đàng hoàng rồi mà còn thơ với từ. Làm như còn trẻ trung lắm. Đúng ra cô cũng chẳng còn trẻ trung gì. Cái tuổi ngoài ba mươi ở quê được gọi là ế đìa. Ai biểu là cô không muốn lấy chồng? Có đó chớ. Nhưng làm gì có điều kiện để mà có chồng. Cô cầm lá thơ trên tay, vừa muốn đọc lại vừa không. Chắc vẫn mấy lời thăm hỏi sức khoẻ. Mấy lời nhắc nhở đừng quá sức vì công việc. Thêm mấy lời thông báo tình hình ngoài ấy. Thế thôi. Như bao nhiêu thơ khác cũng vậy. Cô vào phòng, cầm bì thơ trên tay toan bóc, nhưng nghĩ sao cô lại đặt nó vào đầu giường nơi có cái  hộc bàn và một chiếc kiếng soi. Cũng chẳng vội gì. Tiếng má cô từ bên ngoài vọng vào:

            - Con coi làm sao chớ má thấy không được rồi đó. Má nhìn cái thơ là má khó coi rồi. Chớ cái thằng đó nó tính trói con lại hay sao chớ. Nó có vợ có con rồi thì cũng để cho con có đường mà đi. Còn con… Tính sao. Không lẽ cả đời cứ bám vào cái văn phòng mà sống?  Con làm việc, má mừng. Con tiến bộ má cũng mừng. Nhưng đời người đàn bà chức quyền mấy mà không chồng, không con cũng cô đơn lắm con à. Má là má nói thiệt. Cả nhà, bảy, tám người con, từ gái lớn , đến thằng út, má chẳng phải lo, mà đến tận bây giờ má vẫn phải lo cho con. Ngày xưa, lúc còn con gái ra hoạt động thì má lo dại dột thì ê mặt. Nay thì lớn rồi, chồng con không có thì lo nay mai rồi con ở với ai. Ba má già rồi ba má chết. Không lẽ con ở một mình.

             Quá quen rồi những câu ca thán kia, cô chỉ lặng lẽ. Có lúc cô cũng chạy ra ôm lấy mẹ mà cười: má đừng lo. Nay mai con kêu mấy nhỏ của anh Hai , anh Ba gọi con là má cũng được chớ gì. Chớ con tưởng cứ gọi là má là có thể làm má được hay sao. Có mang nặng đẻ đau mới nên tình máu mủ chớ. Thì cứ coi như mình mang nặng đẻ đau đi, có sao đâu má… Mày gàn qua con ơi. Nói thì nói thế thôi sau bao nhiêu công việc bận rộn của cơ quan, những phút yên tĩnh riêng mình cô cũng nghĩ đến thân phận mình chớ. Những ngày về với ba má, cô được chiều chuộng như một đứa con nít. Từ miếng ăn ngon đến hớp nước uống. Những lúc trái gió trở trời viên thuốc má mang đến tận đầu nằm. Ba ra vườn hái đủ năm thứ lá nấu nồi nước xông. Khi mạnh khoẻ ở cơ quan, nồi cơm nấu trên bếp dầu, chảo canh cũng trên bếp ấy. Mùi dầu hôi bốc lên nghẹt thở. Hồi đầu còn có mấy cô phục vụ ăn chung, cô không phải làm gì, đến bữa là ra mâm. Sau rồi các cô đi lấy chồng hết, còn lại một mình, cô tự nấu lấy mà ăn. Bày mâm cơm lên chiếc bàn trong phòng ăn, ngồi thế nào cũng thấy chống chếnh. Nhưng không thể nào khác được. Công việc vẫn cứ phải làm. Còn một mình thì vẫn cứ một mình. Ai biểu, lấy công việc làm vui là sai. Có thể lấy công việc để mà quên thì còn có thể. Cô đã như thế.

            Nói gì thì nói, cô phải cảm ơn anh, người viết thư này cho cô. Những dòng chữ quá quen với những chuyện trong thư cũng quá quen song vẫn là những dòng tình cảm duy nhất của một người dành cho cô.

            Ngày ấy anh là cán bộ biệt phái xuống huyện cô. Một anh bộ đội Bắc Việt xuống làm quân địa phương đã thành chuyện quá quen thuộc với vùng quê suốt mấy chục năm giặc giã này rồi. Lúc đó cô còn là trung đội trưởng thanh niên xung phong. Anh cán bộ biệt phái kia trẻ, trắng trẻo đẹp trai có cái tên thực mạnh mẽ: Phạm Hùng Dũng. Đang là sinh viên, anh nhập ngũ. Anh nhập ngay vào tiểu đoàn mang tên địa phương tỉnh này. Lần quyết tử thứ nhất, anh còn là tiểu đội trưởng. Lần quyết tử thứ hai, anh đã là đại đội phó. Việc lên cấp nhanh như vậy vì hai lý do. Thứ nhất, bộ đội thương vong nhiều. Thứ hai, anh là người giỏi dang trong công tác chỉ huy. Anh thuộc dạng thứ hai. Lần quyết tử thứ hai này mới thực sự là quyết tử. Lần trước là những cuộc càn quét của ngụy với mục tiêu đuổi lực lượng cách mạng ra khỏi dân. Đối đầu chủ yếu là những đơn vị tinh nhuệ của ngụy  quân. Lần thứ hai này là trọi với Mỹ. Trọi với những cuộc hành quân rầm rầm, rộ rộ với những tên lính đánh thuê từ những nước khác, được trang bị từ chai thuốc chống muỗi , chiếc túi ngủ đến những khẩu súng, khẩu pháo, máy bay vào loại hiện đại nhất. Chúng đóng quân dày đặc suốt dọc quốc lộ, đóng tràn vào cả những tỉnh lộ. Dưới đất, xe chở lính chạy rần rần. Trên trời máy bay như ruồi. Pháo dọn đường, bom phá những nơi nào nghi có quân giải phóng đóng quân. Bộ binh lùa vào làng, vào xóm, vào rừng. Đông khủng khiếp những tên lính đầy nhóc súng đạn trên người. Có điều, chúng muốn đối đầu với chủ lực của giải phóng, nhưng chủ lực đâu chẳng thấy, thấy toàn những đơn vị lẻ. Đông nhất là một tiểu đoàn địa phương. Còn toàn là mìn. Mìn đón chúng ở mọi chặng đường. Du kích lâu lâu lại xuất hiện tỉa vào đội hình của chúng, rồi biến mất như ma trơi. Có kẻ trong bọn chúng cười thầm: mang dao mổ bò đi thịt ruồi. Ruồi không thịt được còn bị ruồi bu cho đến chết.

            Công việc của anh cán bộ Bắc Việt Phạm Hùng Dũng là nắm tình hình, hướng dẫn du kích tập kích những nơi đóng quân của lính Mỹ. Nhiệm vụ của đơn vị cô là tập kết vũ khí đến nơi tập kích. Tải thương binh , tử sĩ ra, nếu có. Vì thế, đơn vị của anh cán bộ kia ở đâu là có cánh thanh niên xung phong của cô ở đó. Những cô gái xứ này, bỗng cảm mấy anh lính Bắc Việt . Không có chiến tranh chắc là khối đám cưới sẽ được tổ chức. Sau những cuộc tập kích, nếu có ai mất đi thì cả hai đơn vị cùng rơi nước mắt lúc truy điệu. Chiến thắng thì cả hai đơn vị bằng mọi cách tổ chức những cuộc liên hoan tưng bừng trong cứ ruột. Gọi là tưng bừng, nhưng chủ yếu là những bài hát và những điệu múa có sẵn trong hai đơn vị. Anh chàng cán bộ kia lâu lâu lâu phải choàng khăn đóng giả gái mà múa. Quả thực, anh ta khoác bộ đồ bà ba vào, coi mòi còn xinh gái hơn nhiều cô trong đơn vị thanh niên xong phong. Anh ta múa chèo. Anh ta chỉ biết có mỗi điệu múa chèo. Anh ta hát. Những bài dân ca quan họ ngọt như đường phèn làm lả lướt khối cô gái thanh niên xung phong. Lúc đó thôi , còn khi vào công việc, mặt anh chàng khó đăm đăm. Không khó để các cô, các cậu chết hả. Đừng có cãi tôi. Tranh luận thì được. Tranh luận cho ra cách đánh hay nhất thì được. Chớ cãi tôi thì lính Mỹ nó lột da các người làm dây lưng quần chúng đó. Biết không? Anh ta nói đúng. Không biết từ lúc nào, anh thuộc xứ của cô như thuộc những đường chỉ trên bàn tay mình. Thôi chuyện trong chiến tranh chẳng nên kể làm gì. Nói ra nhiều người bây giờ người ta không tin nữa. Làm gì có những người như thế trong chiến tranh. Nhiều khi nhớ về những ngày ấy chính cô cũng ngạc nhiên sao quê mình lại có một thời như thế được.

            Và cô cũng một thời thơ mộng trong đời. Anh và cô có những đêm trăng bên nhau. Đêm trăng bên bờ sông Tràm . Con sông Tràm khúc đó mùa nào nước cũng chảy êm đềm. Lúc con nước chảy ngược. Lúc con nước chảy xuôi.  Hai bờ lúc nào cũng chạt những bè lục bình. Những cánh lục bình xanh, và những bông lục bình tím. Nếu không có những tầu tuần tiễn lâu lâu chạy ào ào trên sông với những khẩu súng chĩa họng sang hai bên bờ và thỉnh thoảng những nòng khẩu súng ấy khạc lửa, vãi đạn vào những lùm cây thì cảnh sông êm đềm lắm. Với những chiếc ghe ngược xuôi trên sông. Là những cánh rừng buông ngả những tán cây xoè ra trên mặt nước. Là những chùm hoa rừng muôn màu sắc nở dọc triền sông. Là những vạt cỏ xanh . Những cánh đồng lúa khi xanh khi vàng mênh mông hai bên bờ. Những ngôi nhà nhỏ xinh nép sát bờ sông. Những chiếc vó bè với những cái gọng cong cong khi treo lơ lửng, khi ngả sát xuống nước. Lần đầu tiên hai người bên nhau là một đêm trăng trên sông Tràm . Chuyến ấy là chuyến trinh sát cuối cùng cho trận đánh bót Cầu Gỗ, nhằm chặn những cuộc hành quân của Mỹ lên sát biên giới. Cô chở anh đi trên một chiếc nghe nhỏ. Chiếc ghe bám sát bờ sông mà đi cho đến tận nửa khuya. Sau những giây phút hồi hộp, lo lắng là những phút bình yên. Chiếc ghe đã tách ra khỏi vùng kiểm soát nguy hiểm của những chòi canh ven sông. Chỉ còn hai người. Họ cho ghe nép vào bờ. Đến một gốc cây gừa lớn, họ cho ghe đậu lại, dắt tay nhau bước lên bờ. Trăng hôm đó sáng lắm. Thấy được từng ngọn cỏ. Thấy được những búp dừa non bóng nhẫy và lấp lánh những hạt sương. Thấy cả những chùm rễ cây dị hình, dị dạng buông xuống nước. Ánh trăng lọt qua những kẽ lá, thả từng vòng sáng nhỏ xinh , giát trên mặt đất, buông xuống mặt nước vào nhấp nhô cùng những con sóng lăn tăn. Những cuộc trinh sát thế này qua đêm là chuyện thường tình. Một bộ phận cảnh giới nằm cách chỗ hai người dừng ghe khá xa. Đêm ấy bỗng yên ả lạ thường. Cái gì cũng ở xa. Những tiếng gầm gừ đe doạ của chiến tranh cũng ở đâu xa lắc. Lâu lâu thấy chớp nhì nhằng. Không phân biệt được chớp mưa giông hay chớp của bom nổ. Cả những tiếng ì oàng cũng xa vời vợi đâu đâu. Cảnh vật như vào hùa với đôi trai gái, dành cho họ những phút tư riêng.

            Họ ngồi bên nhau trên một gốc cây có thân ngả sát mặt nước. Câu chuyện của họ lẫn vào với tiếng nước vỗ bờ óc ách, tiếng cá đớp trăng lõm tõm, tiếng gió mơn man trên những tán lá.

            - Quê anh tỉnh nào ngoải ? Anh Dũng…

            - Bắc Giang…

            - Bắc Giang. Xa quá hén?

            - Ờ xa lắm. Hàng ngàn cây số. Ba tháng đi bộ mới vô được đến đây đó em.

            - Rồi làm sao về?

- Khi nào thắng giặc chạy ô tô vài ngày chớ mấy.

- Anh nói sao giống nghị quyết quá hà.

            - Thiệt chớ bộ. Nhất định sẽ phải có lúc chấm dứt chiến tranh chớ. Không lẽ cứ giết chóc nhau mãi…

            Anh đã học được lối nói chuyện của người Nam bộ, nhưng giọng còn cứng ngắc, trại trại khó nghe.

            - Anh Dũng. Anh kể về quê anh đi…

            - Quê anh hả. Không bằng phẳng như quê em đâu. Một nửa tỉnh cũng đồng bằng. Còn nữa kia là đồi. Lên cao hơn một chút là núi.

            - Có giống núi Điện Bà không?

            - Không. Nó kéo dài từ tình này qua tỉnh khác. Giống như răng cưa ấy.

            - Thích há. Em thích cảnh rừng núi.

            - Quê anh có sông nữa. Nhưng không giống con sông này của em đâu?

            - Khác hả? Khác sao?

            - Nó có hai mùa. Mùa lũ thì khủng khiếp lắm em biết không? Nước ở đâu trút cả xuống sông. Cả giòng sông đục ngầu như trộn bùn đất vậy. Nước cuốn ào ào. Những ngày như thế trên giòng nước cuồn cuộn kia đủ mọi thứ. Những cây lớn bị nước nhổ cả gốc rễ. Những mái nhà bị nước cuốn trôi. Có cả trâu, bò, heo, gà trôi trên giòng nước. Đã có lần anh còn thấy cả những con gà còn sống đứng trên một mái nhà tranh đang trôi kìa. Một con gà trống. Nói em có tin không. Giữa dòng nước cuồn cuộn như thế mà con gà trống vẫn cất tiếng gáy. Tiếng gáy của nó ngân vang át cả tiếng nước ào ào. Mùa nước lũ làm cho nhiều nhà khốn khổ. Nhưng cũng làm cho nhiều người có lợi. Anh bơi khá lắm. Mỗi lần nước lũ anh đều ra sông. Thấy cái gì vớt được là anh vớt. Anh kết một cái bè bằng tre. Chiếc bè được cột chắc chắn bằng một sợi dây chạc bện bằng lạt tre. Làm gì hả? Để bè không trôi quá xa. Nó luôn giữ được khoảng cách với bờ. Lỡ không bị trôi theo nước. Anh vớt được nhiều thứ lắm. Nhất là gỗ cây. Những cây gỗ của những lâm trường khai thác chuyển không kịp bị nước cuốn. Vớt được một cây thôi là tiền nhiều lắm đó. Mùa nước lũ thì như vậy. Còn hết lũ nước trong veo. Nước ngập đầu người mà vẫn có thể thấy được cả những hòn cuội dưới đáy. Thích lắm. Bọn anh khoái ra sông tắm vào những lúc như thế. Cả bầy tụi anh ngày nào nước trong là đổ ra sông. Chỗ anh ở có một cái doi cát. Doi cát nằm giữa dòng sông. Doi cát giống hình một con cá sấu. Đầu trên phình ra. Đầu dưới nhọn lại vì nước hai dòng cuốn cát trôi đi. Đó là nơi tụi anh hay tụ tập. Có khi hết cả buổi chiều ở đó. Lên bờ vầy cát chán lại xuống sông vầy nước. Mấy thằng con trai thì mang cần đi câu cá. Mấy đứa con gái thì mang nồi nấu cơm, nấu canh. Nấu giả thôi, làm trò chơi ấy mà… Vui hết biết. Còn mùa đông, có khúc sông cạn queo. Nước càng trong hơn. Lạnh lắm. Lội xuống buốt đến tận xương ấy. Nhưng lại có cái thú khác. Đi chém cá. Vài ba thằng tụ tập lại. Lấy cây nứa làm đuốc. Tay cầm đuốc, tay cầm dao. Chân bước thật khéo để khỏi làm động nước. Những con cá chép, cá trôi bằng bàn tay thấy lửa là đờ người ra không bơi đi nữa. Thế là một dao chém xuống. Có đêm anh chém được cả chục con cá. Hôm sau cả nhà được bữa ăn tươi.

            Chẳng mấy khi có được thời gian thư giãn, lại được nói về quê mình, anh chàng say sưa nói hoài. Anh càng nói chuyện càng mặn, khiến cho cô cứ muốn nghe hoài. Cô bỗng hỏi ngang:

            - Thế có cô bạn gái nào để anh nhớ không?

            - Có chớ , sao không? Bọn anh có một bầy mà. Toàn là những đứa học chung một lớp với nhau. Tám đứa cả thảy. Tám đứa ở gần ven sông lúc nào cũng có nhau. Làm sao không nhớ được. Bây giờ xa nhau cả chục năm rồi mà anh còn hình dung ra được khuôn mặt của từng đứa một. Bữa rồi có người đồng hương vào. Hỏi thăm, con gái thì lấy chồng hết rồi. Con trai thì gần hết là đi bộ đội. Lọt có anh chàng lác mắt, bộ đội chê ở nhà đi đại học. Mất hai đứa hy sinh ở trong này rồi. Còn một anh đang ở miệt U Minh. Là nghe người ta kể thế, anh đâu có biết. Anh thì ở đây. Nay mai về có họp mặt bạn thời đó, thiếu mất vài người. Biết đâu có khi lại thiếu cả anh, chưa biết chừng…

            - Nói sui không hà. Anh từng nói : hành quân cứ đi. Chắc gì đã gặp máy bay ném bom . Ném bom chắc gì đã trúng. Mà trúng chắc gì đã chết kia mà… Chết đâu có dễ.

            - Ờ hén, đang ngồi với em mà nói đến cái chết nghe kỳ qúa phải không. Em này…

            - Gì anh .

            - Nay mai anh mời em ra thăm quê anh nghe.

            - Chắc không đó. Mà thôi. Hổng dám đâu. Về ngoải rồi gặp …

            - Gặp ai chớ. Anh hiểu rồi. Có ai mà gặp ngoài bố mẹ anh, mấy đứa em anh. Ê có con gái miền Nam ra thăm, nhà anh chắc vui lắm đó.

            - Lâu nay có nhận được tin gì ở nhà không?

            - Hai năm trước thì có. Hai năm nay thì không. Anh xuống cơ sở thế này, làm sao thư từ đến tay anh được. Mà em biết một lá thư từ ngoài ấy vào đến trong ngày đi hết bao lâu không? Một năm. Có khi thư đến, nó nhàu nát hết rồi. Thậm chí có thư nhoè không đọc được chữ nữa kìa. Nhưng em có biết không, ngay cả khi nhận được những lá thư đó cũng mừng muốn phát khóc lên được. Có lần anh đã khóc thiệt đó. Thư mẹ anh mà.

 

( còn tiếp)

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

9 Jun, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM - TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN (tiếp theo)

 

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

 

( tiếp theo )

 

 

Đứa nhỏ trong bụng vợ thằng nhỏ mà chúng sợ đã không hình thành trong cái đêm bên hè bách hoá tổng hợp. Bây giờ chúng lại thèm có một đứa nhỏ cho vui cửa vui nhà. Chúng làm cái việc truyền giống kia không còn biết ngượng ngập nữa. Giữa cánh đồng hoang, thích là chúng làm, chẳng kể sớm trưa, chiều tối… may mà chúng chưa có con.

Thì ra Bàu Cày cũng có thể xem là đất lành.

*

*     *

Cho đến khi có những người khác cũng đến ở đây. Đó là vợ chồng lão thày bói.

Trước đây, lão thày bói này không chọn nơi hành nghề của mình ở những góc chợ. Cũng không bày biện những thứ làm người đến coi bói phải kinh hoàng vì sự thần bí. Lão làm một cái trõng nhỏ, kê ngay ở cổng ra vào nhà mình. Trên trõng có mấy tờ giấy hồng điều, cây bút lông, nghiên mực tầu và hai đồng tiền từ thời Bảo Đại còn làm vua.

Lão thày bói đến từ đâu không ai biết, và lão cũng chưa bao giờ kể lai lịch của lão cho ai. Hồi đó còn chiến tranh ì xèo. Chẳng mấy ai quan tâm đến một lão mù loà đến ở đó. Một góc nhỏ xíu ở thị xã Tây Nam.

Lão thày bói này khác người. Người ta gọi là lão vì lão tự xưng như vậy. Lúc lão lập quán nhỏ làm nghề bói toán này lão tự xưng như vậy, nhưng tuổi lão mới ngoài ba mươi chớ mấy. Lão đoán tiền vận, hậu vận cho người ta xong lại khuyên: đừng có tin lời lão. Tin rồi đổ thóc giống ra mà ăn. Giống như là bán thuốc lá vậy. Trên bao thuốc ghi rõ: “hút thuốc là có hại” vậy mà vẫn cứ bán. Vẫn có người mua thuốc lá hút. Có người còn hút nhiều hơn vì bực mình khi thấy dòng chữ khuyên bảo kia. Lão bói cho người ta mà lại khuyên người ta hãy tin ở chính mình, đừng tin thần thánh trời đất làm gì. Đất thì có chớ trời làm gì có. Trời mà có sao cứ bắt người ta sống khổ. Trong khi đó lại có những kẻ sướng như tiên. Ngồi coi bói cho người ta, lão luận về cách sống nhiều hơn là nói cho người ta biết có vận hạn gì không, nay mai gặp sự gì trong đời. Lão bảo người đến coi: biết làm gì chuyện nay mai.  Hãy cứ sống cho ngày hôm nay đi đã. Mai thế nào tự khắc nó đến. Mong cũng không được, tránh cũng không qua. Lão hỏi người đến coi bói: liệu có thấy bao giờ xe ô tô đâm chết người dưới nước không? Không hả, vậy mà có đấy. Hai bố con nhà kia làm nghề chài lưới. Bữa đó, sau một buổi sáng cật lực tung lưới quăng chài, kiếm đủ cá bán ngoài chợ. Đủ tiền mua gạo cho cả nhà, hai cha con ghé ghe đậu lại bên bờ. Bờ sông nằm dọc con lộ. Một chiếc xe ô tô bỗng mất tay lái cứ thế nhằm thẳng chiếc ghe mà lao xuống. Cả hai cha con cùng chết. Thế đấy, có phải là xe ô tô đâm chết người dưới sông không nào. Chuyện gì mà chẳng có thể xẩy ra. Biểu có vận hạn hả, có vạ lụy thân hả, thì tránh trời cũng không khỏi. Kể thêm chuyện này nghe chơi. Thời Tam quốc tận bên Trung Quốc lận. Lúc Tào Tháo bịnh, có một vị quan xem cho Tào Tháo và biểu : Tào Tháo nhất định không được ăn cơm mới của năm đó. Tào tháo đâu có tin vì lúc đó lúa mới cấy. Lúa lên xanh rồi lúa chín. Người ta gặt về. Tào tháo cười: ai dám nói là ta không được ăn cơm mới. Vị quan kia vẫn cứ bảo nhất định đại vương sẽ không ăn được cơm mới. Lúa phơi khô. Người ta mang vào xay, giã. Rồi người ta mang nấu thành cơm. Táo Tháo kêu lính bắt vị quan kia mang chém đầu vì tội nói láo. Cơm đã chín rồi, mùi thơm cơm mới cứ lừng lựng thốc vào mũi Tào Tháo kia mà. Nhà ngươi nói như thế là người trù ẻo ta. Không giết người thì để làm gì. Đầu vị quan kia rơi xuống cũng là lúc nồi cơm nấu chín. Kẻ hầu, người hạ, bới cơm dâng lên cho Tào Tháo. Nhưng khi Tào Tháo mới nâng chén cơm lên thì một cơn đau bụng đột ngột đến . Tào Tháo bàng hoàng, chén cơm rớt xuống còn Tào Tháo thì bất tỉnh nhân sự. Thế là hết đời một kẻ gian hùng. Rõ ràng là Tào Tháo đã không kịp ăn cơm mới vụ mùa đó. Tào Tháo chết, kéo theo cái chết của một người nói đúng. Người ta biểu Tào Tháo đến thế là hết số. Còn vị quan kia, không lẽ cũng đến thế là hết số sao. Thế nên, trời làm gì có, trời càng không có mắt. Vậy thì đừng nên biết chuyện ngày mai. Hôm nay các người đến với ta khoẻ mạnh như thế là tốt lắm rồi, nghe ta nói đôi ba điều tầm phào mà yên tâm sống.

Lão bói toán như thế tưởng sẽ chẳng có ai đến với lão. Thế mà người ta vẫn cứ đến. Mỗi ngày cũng dăm bảy lượt người. Có khi đông cả chục người mỗi ngày. Lẽ ra xem bói thì nhiều cũng chỉ cần năm phút nửa tiếng thôi, nhưng có khi lão nói với người ta cả tiếng đồng hồ. Người khéo gợi chuyện có khi vài tiếng. Lão chịu nói lắm. Đông tây, kim cổ, chuyện gì lão cũng biết. Người ngồi trước mặt lão có khi ứng vào mấy nhân vật của Thủy Hử, cũng có khi vận vào các nhân vật của Tam quốc chí. Đôi khi có cả những người ứng vào vân của của những nhân vật thời Đông Chu. Cứ thế là lão kể chuyện về những vị nắm vận người ta mà kể. Kể liên miên. Nhiều người thắc mắc, mắt mũi lão thế kia, đọc sách vào lúc nào mà thông tường đến thế. Cũng có người tò mò hỏi lão như vậy. Lão cười và trả lời: Cứ phải có mắt mới đọc được sách hay sao. Sách nó nằm trong tâm người ta. Nghe người ta kể , thuộc nằm lòng thế là sách chớ gì. Chẳng ai tin lão cả. Khi ra về trong ai cũng có một câu hỏi: Không lẽ mình lại là hậu duệ của những ông Quan Vân Trường, Lưu Bị, Thời Thiên , Võ Tòng hay sao…Thôi thì mặc kệ, miễn được một buổi dưỡng tai, thế là tốt rồi.

- Đời nó đểu lắm, các ông các bà có biết không. Hôm nay là bạn, mai có khi thành thù. Hôm nay đang khoẻ mạnh, mai có khi thành tàn tật. Có những thằng, những con hơn hớt nói cười vậy chớ trong bụng nó toàn là lưỡi dao bén ngọt. Tôi sống ngần này tuổi rồi, mắt không nhìn thấy gì, nhưng ngẫm đủ mọi thứ chuyện trên đời. Buồn cũng thấy mà vui cũng thấy. Thấy cả những trớ trêu cuộc đời. Ô hay. Khi sống sao người ta không thương yêu nhau mà để đến lúc chết mới khóc thương, khóc xót là sao. Mấy ông, mấy bà kiếm đến tôi làm cái gì. Hằng ngày sống tốt với nhau đi thì làm gì có chuyện buồn, có chuyện lo mà phải bói với toán. Người này cho người kia một chút. Kẻ có tiền cho kẻ không tiền. Kẻ giàu sang giúp người nghèo hèn. Gặp nhau ai cũng cười thì làm gì phải lo tiền vận hậu vận. Lúc bấy giờ, ở góc phố đường ra chợ Tây Nam, lão thày bói đã hành nghề. Không biết lão ở đâu đến. Lão mua một miếng ruộng trồng kèo nèo nằm giữa hai căn nhà ở đường  này. Lão thuê người ta lấp đất và cất lên ở đó một ngôi nhà nhỏ ở một mình. Mấy ngày sau khi ngôi nhà dựng xong, lão bày ra cái trõng tre và dăng trên đầu một miếng vải có mấy chữ : coi tiền vận, hậu vận. Mặc nhiên thị xã Tây Nam có một ông thày bói hành nghề. Việc một ông thày bói mù hành nghề chẳng ảnh hưởng gì đến ai, nên cũng chẳng ai để ý đến lão. Ngay cả chuyện lão hành nghề khi tuổi chẳng được bao lăm cũng chẳng khiến ai tò mò. Gần một tuần qua, mới có người nhòm ngó đến lão. Ban đầu người  xứ Tây Nam này không mấy người tin vào chuyện tiền vận, hậu vận của đời mình, nên chẳng ai tìm đến lão. Nhưng sau một tuần có người tìm đến. Lão nói chuyện khiến cho người ấy mê. Hôm sau rủ thêm người nữa. Bắt đầu từ đấy người ta chú ý đến lão nhiều hơn.

Lão cứ lảm nhảm như thế ngay cả khi tay gieo quẻ, cả khi thắp nén nhang. Lão càng khuyên người ta thì người ta càng kiếm đến lão thế mới lạ. 

            Chuyện lão lấy vợ có một thời dậy những tin đồn. Người ta biểu lão làm nghề bói toán nên đã bỏ bùa cho một cô gái trẻ như thế theo lão. Trẻ là trẻ với người ta, chớ trẻ gì với lão. Lão biểu, lão chỉ biết làn da mái tóc của cô gái bằng bàn tay của mình thôi. Mà lão cũng chẳng bùa ngải gì với cô ta cả. Cô ta là người đến nhờ lão xem bói. Đến tận bây giờ lão vẫn còn giữ được cái khung tốt tướng. Ngày ấy, bước chân lão khoẻ mạnh. Bàn tay lão còn rất ấm. Mái tóc lão vẫn còn xanh nguyên. Tóm lại là, trừ đôi mắt không được như người ta, tất cả con người lão vẫn là một mẫu hình của một người đàn ông mẫu mực. Chiều tối của một ngày cuối mùa gió chướng, khi lão chuẩn bị dọn chiếc trõng vào nhà, thì có một người con gái bước đến.

            - Chào thày. Thày còn coi …

            - Coi gì ?

            - Coi bói…

            Lão hất cái mặt  với cặp mắt lơ lơ láo lên:

            - Ủa, chớ không coi bói thì coi gì.

            - Vậy nhờ thày…

            Lão kéo chiếc trõng tre để lại vào vị trí cũ và leo lên ngồi sắp bằng trên đó. Lão hỏi cô:

            - Bây giờ cô cần hỏi về cái gì?

            - Người ta nói năm nay con có hạn. Mà hạn nghiệt lắm. Chỉ còn ít tháng nữa là hết năm, nhờ thày …

            - Vậy chớ từ đầu năm đến giờ có gặp chuyện gì không?

            - Dạ không?

            - Vậy thì coi làm gì cho khổ cái thân.

            Cô gái tròn mắt ngạc nhiên. Cái ông thày này lạ. Người ta đến coi bói thì bói cho người ta, lại biểu coi làm gì. Cô gặng nói:

            - Thưa thày, còn những hơn một tháng nữa mới hết năm mà.

            - Cô năm nay bao nhiêu tuổi rồi ?

            - Dạ thưa, con hai mươi hai tuổi.

            - Trời đất hai mươi hai ? Kém tôi tới  mười mấy tuổi lận. Mà đừng kêu tôi là thày, xưng con nghe kỳ kỳ sao đâu. Tôi nói rồi, tôi không lấy cái nghề làm thày này để kiếm sống. Tôi coi tướng cho người ta cho vui thôi. Nhưng tại người ta cứ thích tôi nói điên, nói khùng, người ta đến. Riết thành quen cái miệng phán thay ông trời. Nên mới thành thày bói. Cô hiểu không. Mắt mũi tôi mà sáng, tôi không thèm ngồi trên cái trõng này đâu. Mà cô coi nè, mắt mũi tôi vầy nè. Nhà cửa tôi vầy nè. Vợ con không. Con cái không mà tôi đâu có lo gì… Cô còn trẻ mà. Nhưng mà nè, nghe cô nói chuyện, cái giọng cô ấy mà, nó dễ thương, mà hình như cô đang bị chuyện gì đó buồn lắm phải không?

            Ai trách mấy ông thày bói nói mò. Nhưng câu nói đó của ông thày đã làm cho cô gái phải chau mày suy nghĩ. Cái chau mày làm cho gương mặt cô tối lại chút ít. Tối lại những vẫn rất có duyên. Nét lông mày thanh tú, trên cặp mặt lá dăm. Sống mũi thẳng và cái miệng với vành môi mỏng. Mái tóc đen nhánh dài thả xuống ngang lưng. Mái tóc đủ nói với mọi người cô là con gái nhà lành. Giữa thời buổi nhiễu nhương, kẻ bon , ngừơi chen, xô bồ nhộn nhạo thời chiến tranh ở một thị xã nhỏ bé hẻo lánh này, một cô gái như thế kể cũng là hiếm. Nghe thày bói đoán mò mà cô gái băn khoăn. Rồi như bị thôi miên , ám ảnh, cô kể cho thày bói nghe chuyện mình, giống như lời của một người xám hối vậy. Cô yêu một anh giáo học trên mình một lớp. Một người đàn ông mẫu mực. Thân hình vạm vỡ. Những bắp thịt trên tay vồng lên. Gương mặt lúc nào cũng sáng bừng, thông minh.

Chuyện ban đầu chỉ là dỡn chơi . Cô có một người bạn gái. Người bạn gái ấy rất thân với một thày giáo trẻ. Một chiều kia, cô bạn gái rủ cô đến thăm ông thày thân thiết của mình. Căn nhà nhỏ nằm sâu lút trong rừng cây cao su. Ông thày không phải người xứ này. Sau những giờ lên lớp, anh về ở trọ trong một gia đình công nhân cao su tốt bụng. Thuê mướn nhà ở thị xã Tây Nam này không khó gì. Nhưng lương giáo viên, lại phải gởi về nhà nuôi một xấp nhỏ em, anh tiếc không muốn thuê. Hai đứa dắt nhau đến thăm thày vào một buổi chiếu đã tắt nắng. Hồi đó còn chiến tranh. Chiều đến, không ai muốn ra khỏi nhà. Thị xã Tây Nam này lúc nào cũng nghe tiếng súng. Tiếng súng lúc xa, lúc gần. Tùy vào lúc chiến cuộc khi gay cấn, khi tạm lắng. Hai cô gái không thể ngờ chiều ấy lại có đến hai ông thày đón mình. Một bữa tiệc ngọt nho nhỏ bày ra trên một chiếc chiếu ở thềm nhà. Những phong kẹo, những phong bánh, một bình trà và mấy chai nước ngọt.

Gió trong rừng cao su mát rượi.

Những câu chuyện ban đầu còn nhỏ nhẹ, giữ kẽ. Nhưng rồi hai ông thày khéo miệng làm câu chuyện cứ xôm tụ dần. Những tiếng cười của hai cô gái trong trẻo làm vui cả một góc vừơn cao su. Gia đình anh công nhân tốt bụng cũng sán lại làm cho câu chuyện càng thêm rôm rả hơn. Trời sập tối, chuyện vẫn còn chưa dứt. Nhưng cũng phải chia tay. Bây giờ, hai cô học trò sau lưng hai ông thày trên hai chiếc xe đạp. Hình như cả hai ông thày không muốn cho xe mình chạy nhanh hơn. Cứ nhẹ nhàng, chậm rãi.

Chuyện tưởng chỉ có vậy. Nhưng bắt đầu từ hôm đó, cô học trò cứ bị hình ảnh ông thày đẹp trai len lách vào trong suy nghĩ của mình. Cô bạn gái hình như biết được suy nghĩ của bạn mình. Cô tìm cách dãn ra, không để bạn mình tiếp xúc với ông thày kia nữa. Có lần, cô đã thấy ông thày ấy chở cô bạn mình sau xe giống như hôm nào chở cô trên con đường nhỏ gồ ghề trong thị xã. Trong cô, len lỏi những suy nghĩ chẳng lấy gì làm tốt đẹp về bạn mình. Mấy lần, cô rủ bạn mình đến thăm thày, nhưng bạn cô khéo từ chối. Trong khi đó, ông thày kia lâu lâu lại hẹn cô. Lúc thì đi ăn chè dưới cầu Quan. Lúc thì vào một quán giải khát nhỏ. Sau đó là những món quà nho nhỏ. Cây viết. Cục tẩy. Chiếc khăn mui soa. Kèm theo là những dòng chữ. Khi thì:” Mong em học giỏi”. Khi thì: “ Nỗi nhớ triền miên”. Có khi mạnh dạn hơn là: “Phía trước sẽ là của chúng ta”.

Một hôm, chính người thày ở trọ trong nhà anh công nhân cao su kia hẹn cô. Anh chở cô lòng vòng khắp thị xã Tây Nam. Cái thị xã Tây Nam này có bao lớn đâu. Dọc, chạy xe chừng mưới phút. Ngang, cũng chừng mười phút. Phố xá nghèo nàn, lụp sụp. Nếu không có dãy phố Tự Đức chẳng thể bảo đó là thị xã. Có đường, có phố đó mà nhà cửa thưa thớt giống như một vùng quê nghèo. Sau những dãy nhà là ruộng. Qua hết mấy con đường chính là đến những cánh đồng. Xa thêm một chút nữa là thấy rừng rồi. Hai người cuối cùng cũng ghé vào một cái quán cà phê nhỏ cuối dãy phố gần với Chùa  thánh. Hết một ly nước ngọt. Anh thì hết ly cà phê. Chuyện vẫn rời rạc. Mỗi người đang theo đuổi một suy nghĩ riêng. Cô không dám hỏi gì anh. Còn anh thì hình như sắp sửa nói ra một cái gì rất nghiêm trọng, nhưng rồi lại thôi.

Khi chia tay, anh cầm tay cô thân mật:

- Anh muốn nói với em một chuyện. Nhưng không biết nên nói như thế nào. Nhưng anh nghĩ, có lẽ cũng không cần phải nói nữa. Những gì mà bọn anh lo, chắc không còn đáng lo nữa…

            Cô không biết chuyện gì hết, nhưng cô bắt đầu lo. Chuyện gì mà nghiêm trọng thế.

            Sáng hôm sau, trên sân trường, cô bạn đưa cho cô một gói nhỏ. Đưa mà không nói một lời, khiến cô phấp phỏng lo âu. Không thể mở ngay ra được, cái gói nhỏ nằm trong cái cặp da, mà sao cô thấy nó cứ bỏng rát trong tay mình. Khi vừa tan lớp, cô chạy ra ngoài. Bàn tay cô lẩy bẩy. Ngỡ là một món quà gì đó. Mà không, đó là tất cả những gì mà cô đã gởi cho anh, để đáp lại những món quà mà anh đã gởi cho cô. Một chiếc cà vạt. Một cặp khuy sẹcmăng áo sơ mi. Và, một lọn tóc nhỏ cô cắt tặng anh khi anh ngỏ lời xin. Một bức thư không dài:

“ Em. Cô học trò nhỏ yêu qúy của tôi. Cho phép tôi lần đầu tiên gọi em như thế và cũng là lần cuối cùng gọi em như thế. Ngày mai, khi em nhận được những thứ này và thư tôi, thì tôi đã rời đất Tây Nam này để về quê. Quê tôi, một vùng sông nước miền Tây. Tôi không thể ở lại đất này được nữa. Tôi không muốn mình mắc lỗi. Tôi không muốn đưa em vào một hoàn cảnh éo le.

Phải xa em, tiếc vô cùng. Trách trời sao để tôi gặp em muộn thế. Gần em không nhiều. Nhưng em đã cho tôi những giây phút thần tiên nhất. Những chiều bên em, được nghe em nói, được nghe em cười, lòng tôi thanh thản. Nhưng anh không thể đưa em đi xa hơn trong đường đời của tôi. Phải xa em thôi. Xa mà không thể hẹn ngày trở lại.

Tôi đi nghe em. Em ráng học giỏi nghen. “

Thế là thế nào. Khi không lại nói những lời như lời người sắp biến khỏi cõi đời này. Cô cuống lên. Cô cũng không hiểu tại sao mình lại cuống lên. Trái tim nhỏ bé của cô mách bảo với cô một điều : cô đang yêu. Những ngày bình thường kia chưa đủ thời gian để cô nói những lời từ đáy lòng cô. Nhưng còn anh, sao anh lại không nói, để bây giờ nói lời từ biệt. Mà từ biệt sao được, khi mỗi ngày vẫn nhìn thấy anh. Đến bây giờ cô mới nhận ra một điều, từ dạo đó, mỗi khi đến trường, cô thường đưa mắt nhìn khắp sân trường. Hôm nào nhìn thấy được bóng dáng anh, thì hôm đó, cô yên tâm ngồi trong lớp. Hôm nào không thấy anh đâu là cô bồn chồn. Những lời thày cô giảng hôm đó bay đi đâu mất. Những chữ viết trên trang giấy hôm đó của cô cũng là những chữ vô hồn. Hình như biết ý cô, hôm nào, trước giờ lên lớp anh cũng đứng dưới gốc cây me ngay giữa sân trường. Bao giờ cũng một nụ cười trên môi và một bàn tay vẫy kín đáo.

Ngày hôm sau, cô không thấy anh dưới gốc cây me.

Ngày hôm sau nữa cũng không thấy.

Bạn bè quanh cô xì xào: anh đã về quê.

Cô chạy đi tìm bạn gái mình.

- Mình không thể nói hết với bạn được. Thông cảm…

            - Thông cảm. Sao lại phải thông cảm…

            - Anh ấy đã có vợ dưới quê…

            - Vợ ư? Có sao đâu …

            - Mình sợ bạn …

            - Sợ gì chớ…

            Miệng cô thì nói cứng vậy, nhưng trong lòng cô như có muối sát. Thì ra thế. Anh ấy đã chạy trốn cô. Không biết như thế là có lỗi hay không? Mà ai có lỗi? Cô có lỗi ư? Không, cô chẳng có lỗi gì hết. Tất cả mới dừng lại ở những cuộc trò chuyện có giới hạn. Nhưng cô biết, cô đang tự dối lòng mình. Nên khi chia tay với cô bạn gái xong, cô không sao lên nổi chiếc xe đạp của mình. Cô dắt nó đi. Nếu không có nó, hẳn cô không đứng vững được.

            Không còn là cô bé hồn nhiên hôm nào nữa. Suốt ngày cứ ngẩn ngẩn, ngơ ngơ. Một hôm cô bạn gái chạy đến tìm cô. Thấy cô, cô bạn oà khóc. Tiếng khóc báo cho cô biết có chuyện chẳng lành xẩy ra. Cô khóc theo mà không biết vì sao lại khóc. Vốn dồn nén đã lâu, nay mới có dịp để bùng ra. Tiếng khóc tức tưởi giống như bị điều gì oan ức. Một lát sau, cô bạn mới nói:

- Ảnh chết rồi.

            - Cái gì? Ai chết?

- Ảnh chết rồi. Về đến quê, chán cảnh nhà anh đi lính. Ra mãi vùng một. Ảnh chết ngoài Quảng Trị rồi.

Bây giờ mới là tiếng khóc thực sự. Hai cô gái ôm nhau mà khóc. Chẳng đứa nào dỗ được đứa nào. Cả hai đứa lả đi vì đã hết nước mắt.

Cô bỏ học sau đó ít lâu. Cô không thể chịu nổi cảnh đến trường mà không thấy anh đứng dưới gốc me, không thấy nụ cười anh và bàn tay vẫy kín đáo.

            Nhiều năm đã trôi qua. Bây giờ cô đã là một người lớn. Nhưng hình như không có bất cứ người đàn ông nào đến được với cô. Anh đã choán hết trong tâm trí cô. Nhưng ác hơn, từ ngày đó, học cũng không được mà làm cái gì cũng không được. Cả nhà coi cô là một kẻ vô dụng. Chẳng còn cách nào khác. Cô tìm về cõi hư vô. Ngày ngày lên chùa. Ăn chay trên chùa. Tụng kinh trên chùa. Suốt ngày quanh quẩn với những ni cô. Nhà chùa vốn sạch bong, vậy mà suốt ngày cô quét.  Giá ở trên chùa có chỗ cho cô nghỉ ngơi, chắc cô chẳng về nhà. Đã có lần cô ngỏ ý với sư cô trụ trì, xin được xuống tóc. Sư cô trụ trì nhìn cô một hồi mới nói:

Người ta tu được là nhờ ở cái căn. Thầy thấy con căn không phải căn tu. Có tu rồi con lại hoàn tục thôi. Thầy biết hết nỗi lòng con. Con vẫn còn nhớ đến người ấy. Mà người ấy thì đã về cõi xa rồi. Con nói đã nhiều năm rồi phải không. Năm tháng có nghĩa lý gì với đời người. Nay nhớ, mai quên. Thầy thấy con còn nhớ, tức rồi sẽ có ngày con quên thôi. Thoát tục khó lắm con ơi …

 

(còn nữa)

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

27 May, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( Tiếp theo)

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

( Tiếp theo )

 alt

          Núi Điện Bà , người ta thường gọi là núi Bà Đen. Có người còn gọi là bà Đênh. Người ta gọi thế vị sợ chạm vía và. Tương truyền Bà đen lắm. Đen như người Miên vậy.  Là con một ông tiều phu đốn củi trên núi. Ngày ấy ai cũng muốn chiêm ngưỡng và ai cũng gọi là cô. Khi lớn lên, cô đã không biết mẹ mình. Cô đen nhưng mà đẹp. Không hiểu sao, đám trai dưới chân núi thấy cô là mê. Nước da đen đúa của cô chẳng làm xấu đi những nét duyên dáng trên con người cô. Cười thực tươi nè. Môi thật tươi nè. Hai mắt thật tươi nè. Cô ở đâu là sáng trời, sáng đất ở đó. Đám trai làng xúm xít quanh cô như bầy ong vậy. Mỗi đứa một cách lấy lòng cô cho được. Đứa leo lên núi chọn những chùm phong lan hiếm nhất, đẹp nhất chỉ mọc ở những đọt cây đứng cheo leo ở những vách đá cao nhất, hiểm trở nhất, vừa tặng cô vừa kể lể công lênh. Đứa mang về tặng cô những chú chim non xinh xắn mà chúng bắt được trong những hốc đá cao vòi vọi trên núi. Những đứa khác không leo núi được thì củ khoai, củ mì, hạt thóc… cái gì làm quà được làm mang tới tặng cô. Cô cười, nhận xong tặng lại cho người mới tặng một nụ cười không ai có thể từ chối. Thế là cô chẳng nợ một ai trong làng hết. Nhưng con chủ làng thì không thế. Mỗi ngày hắn đến cái chòi của ông tiều phu một lần. Hắn có phải làm việc gì đâu. Nhà hắn giàu. Người ở, người làm đông đúc. Vì thế hắn chỉ có mỗi một việc là tụ tập một bầy trẻ ăn không ngồi rồi đi phá làng phá xóm lúc nhỏ. Lớn lên đi tìm thú vui ở những cô gái trong làng. Ban đầu hắn thấy cô gái kia đen đúa, xấu xí chẳng có gì đáng để ý. Nhưng sau thấy lũ trai làng giống như bị hớp hồn. Thế là hắn tìm đến . Thử coi thôi mà. Ai dè, khi gặp cô, thì chính hắn bị hớp hồn vì nụ cười của cô. Thế là hắn theo. Theo riết. Tinh mơ hắn đã có mặt tại cửa chòi nhà cô. Ông tiều phu sợ hắn lắm. Thấy hắn đến là ông không dám lên núi. Ông chẳng lạ gì cái thằng này. Nó dám lật bàn thờ ông bà nhà nó tìm vàng đi sài thì chẳng có việc gì mà nó không dám. Tưởng ngày một ngày hai thì thôi. Ai dè, nó đến riết, khiến ông không còn dám đi đâu nữa. Thành ra đói. Đói thì nó mang thóc đến cho. Thành ra nợ. Nợ thì hắn cho khất. Thành ra nợ chồng, nợ chất. Cho đến một hôm, hắn đòi ông cho hắn cưới cô con gái đen đúa của ông để trừ nợ. Ông tiều phu từ chối. Vì ông biết rằng con gái ông không đời nào lại có thể chung sống với  một thằng con trai phá làng phá xóm ấy. Nó gầm lên, hò hét đám đệ tử phá nát cái chòi của cha con ông tiều phu.

 Trời đất bỗng tối sầm lại. Một đám mây đen từ đâu ùa đến che kín cả bầu trời. Những tiếng sấm gầm lên. Những tiếng sét nổ chát chúa. Cả làng thất kinh. Còn hắn thì cười nhăn nhở. Trời cho đó. Hắn biểu ông tiều phu như vậy. Nhưng khi quay ra thì không thấy cô con gái của ông tiều phu đâu nữa. Cô đã trốn mất. Nhưng không hiểu vì sao lại nhanh đến như vậy. Khi hắn bước vào còn thấy cô ở sau nhà. Chớp mắt đã không thấy cô đâu. Hắn hét đám trai đi theo đi kiếm cô về. Nhưng cái làng dưới chân núi này có bao nhiêu đất rộng, mà sao không thấy bóng dáng cô đâu. Những đám mây đen không chịu bay đi. Những tiếng sấm cứ gầm lên hoài. Thỉnh thoảng lại có sét nổ. Mà tịnh không một giọt mưa.

Không ai biết bằng cách nào mà cô đã lên một cái hang đá trên lưng chừng núi. Ngay cả cô cũng không biết. Chỉ thấy trời chợt tối đen. Thấy một làn gió thơm phức thổi đến. Cô thấy mình nhẹ lâng và khi mở mắt ra đã thấy mình đứng ở cửa hang. Xung quanh cô, ánh sáng rực rỡ toả ra. Trước mặt cô là một bông hoa đá khổng lồ. Từ bông hoa đá, ngàn vạn những chấm sáng lấp lánh, lung linh chớp nhá không dứt. Một hương thơm rất lạ ngào ngạt. Thêm một làn gió nữa tràn đến. Gió thúc bàn chân cô. Cô bước vào bông hoa đá. Lòng cô thanh thản. Tất cả nhẹ lâng. Cô không còn nhận ra mình nữa. Tất cả đã thăng hoa.

Với cô là như vậy. Còn với người đời, mấy hôm sau , người ta thấy một đống đất ùn lên dưới chân núi. Đống đất ấy thay đổi mỗi ngày. Hôm nay còn nho nhỏ. Mai mốt đã ùn lên. Rồi một ngọn núi mới cứ cao dần, cao dần lên. Trên ngọn núi ấy là một tảng đá lớn. Tảng đá mang dáng một người đàn bà đen dúa. Tất cả là hư vô. Chỉ thấy trên ấy, lúc nào hình như cũng có nụ cười của cô gái lúc đang còn sống. Thấy rõ cả hai cánh tay. Một buông xuôi xuống và một chỉ thẳng lên trời. Từ đấy không ai dám gọi là cô nữa, mà gọi là bà. Người ta kháo nhau: cô gái đen đúa nhưng xinh đẹp duyên dáng kia đã về trời. Người ta còn bảo nhau, bà sinh ra không phải để lấy chồng mà sinh ra để coi xem trần thế này nó ra sao. Nhưng câu chuyện cứ thế truyền tụng. Người ta nhớ đến lúc bà biến mất. Mây đen u ám. Sấm chớp ì đùng. Sét đánh ngang tai. Người đời mỗi khi nhắc đến bà là kinh hoàng. Họ bèn leo núi tìm đến hòn đá mang hình dáng bà. Lên đến nơi, mới thấy đó không chỉ có một hòn đá mà còn có bao nhiêu hang động nhì nhằng. Còn có những con suối róc rách reo. Một khe núi rộng rinh rang có thể cho cả ngàn người qua lại. Mỗi khi đi qua khe núi ấy, ngoài những tiếng chim hót véo von, còn có cả những tiếng ngân nga như của cả ngàn chiếc khánh đồng cùng rung lên. Những sự lạ liên tiếp làm cho những người đầu tiên đặt chân lên đây vừa kinh ngạc, vừa khiếp sợ. Thời gian có bao nhiêu đâu sao trái núi mọc lên với bao nhiêu điều kỳ dị như vậy. Phiến đá mang dáng hình bà khổng lồ trước mặt. Nhiều người muốn cúi xuống lạy bà nhưng không được. Nơi được xem là bàn chân kia là cả một phiến đá khổng lồ, nhẵn bóng, đến cả con kiến cũng không thể bò lên đó vì trơn trợt. Mấy người thợ chuyên đẽo đá bèn nghĩ ra cách tạc một bức tượng nhỏ, để có thể ai cũng đến được gần. Họ chọn những phiến đá lớn. Màu sắc vân vi. Nhưng với những viên đá ấy, mỗi lần đặt búa vào là nảy búa ra. Nếu không nảy búa ra thì cũng chẳng bóc được những miếng như ý. Cuối cùng họ chọn một phiến đá bình thường, loại đá có màu đen. Thật bất ngờ. Những bàn tay thợ dường như khéo hơn, nhanh hơn và tinh xảo hơn. Nhưng không phải như vậy. Những người thợ có cảm giác ai đó đang hướng bàn tay họ đặt đục vào đâu. Đánh búa như thế nào. Bức tượng hoàn thành nhanh chưa từng thấy và cũng tinh xảo chưa từng thấy. Tất cả từ nét mày thanh tú, cái miệng tươi rói, hiền hậu. Mái tóc cuốn thành từng lọn, ép vào chiếc nón sang trọng. Nếp áo uốn lượn. Ngày còn sống bà đâu có biết những loại xiêm áo như thế này. Vậy mà bây giờ, bộ xiêm áo của bà giống như một làn mây mỏng mảnh, dịu dàng phủ lên người bà khiến cả thân hình toát ra vẻ thanh thoát khó tả. Nhưng đến khi đăt tượng ở đâu thì thực là khó khăn. Những người già nhất trong làng kêu đặt bà trên một tảng đá lớn nhất, chỗ thoáng nhất trên sườn núi. Đương nhiên là mọi người phải nghe rồi. Nhưng không sao chuyển được bức tượng lên đó. Bức tượng chỉ bằng một nửa người thường mà có sức nặng đến ngàn cân, không sao nhấc lên được. Bao nhiêu ngày trôi qua không ai biết làm sao đặt tượng.

Bỗng một hôm, sau bao nhiêu ngày than khóc nhớ con, ông tiều phu kia đã thiếp đi trong một giấc ngủ thực say. Ông thấy mình bồng bềnh trôi trên một dòng sông. Dòng sông có con nước trắng ngần như sữa. Ông dang rộng cánh tay, ngẩng cao đầu, đón làn gió mát rượi phả vào mặt. Những hạt nước ly ty vương trên mặt ông. Từ rất xa, ông nhận thấy con gái mình đang tươi cười lội ngược dòng nước chạy lại phía ông. Sóng nước chồm lên, đỡ lấy hai chân đứa con. Giống như có một vầng mây trắng bông đỡ bước chân của cô. Cha con mỗi lúc một gần nhau hơn. Khi chỉ còn một khúc sông nữa, con ông bỗng bay lên, xà về phía ông và nằm gọn trong vòng tay ông. Nhưng chỉ trong chốc lát thôi con ông vuột khỏi tay ông và biến mất vào không gian. Ông còn nghe được một câu nói, rất khẽ, rất khẽ như tiếng gió:

- Con muốn ở trong động. Trong động, nghe ba…

- Sống trong động. Sống trong động là sao, là sao, là sao…

Mọi người lay ông thức dậy. Ông không mở được mắt nữa mà chỉ lẩm nhẩm nói với người trong làng:

- Con tôi muốn sống trong động…

Chỉ nói xong câu đó ông tiều phu không còn trở dậy được nữa.

Người trong làng coi đó là một lời phán truyền.

Người trong làng chôn cất lão tiều phu xong, liền chuẩn bị đưa bức tượng bà lên núi. Họ làm một cái lễ thực lớn, múa hát mấy ngày trời và ngẩng đầu khấn bà, xin bà cùng dân làng lên núi. Thực lạ kỳ. Bức tượng bỗng nhẹ hẳn. Một nửa tháng ròng, kể từ khi bông mai đầu tiên nở đến khi những bông mai tàn hết trên cành, bức tượng mới được rước lên lưng chừng núi. Đến đấy, bức tượng lại nặng chịch, không nâng lên được nữa. Mọi người hiểu, bà muốn ở lại đây, tại lưng chừng núi này. Đêm ấy trên núi lại xẩy ra sự lạ. Nửa đêm, khi trăng đang sáng vằng vặc, trời bỗng xầm tối. Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên. Cả mấy chục dặm đường còn nghe thấy. Sau tiếng nổ, khi mọi người còn đang kinh hoàng thì ngay chỗ đặt bức tượng phát ra một luồng hào quang rực rỡ. Tại đó, hiện ra một cái động không lớn, nhưng tạo thành một mái che bằng cả một phiến đá phẳng. Trong động, có rất nhiều những tảng đá. Mỗi tảng đá là một hình thù khác nhau. Giống như trong đó có một đoàn người đông đúc. Kẻ đứng, người ngồi. Kẻ cười, người khóc. Kẻ vung tay sảng khoái, người khép nép, lom khom. Có đàn ông, đàn bà. Có những đứa trẻ líu ríu vây quanh người lớn. Ngay giữa động, có một bệ đá vuông vức rộng lớn. Ngừơi trong làng biết đó chính là nơi bà sẽ đứng. Họ bỏ thêm nửa tháng nữa đi tìm những lá thơm nhất rừng, những củ cây quý nhất rừng, nấu nước tắm cho bà. Những giọt nước chảy đến đâu, bức tượng sáng bóng lên đến đó. Khi bức tượng được đặt lên bệ đá, một lần nữa trong động lại bừng lên ánh hào quang rực rỡ. Đêm ấy là đêm cuối tháng, trời không một ánh trăng sao. Ánh hào quang từ nơi đặt tượng bà chiếu sáng khắp một vùng. Người trong làng hát những bài hát hay nhất, múa những điệu múa đẹp nhất. Những người già khấn những lời thành kính nhất . Những trai gái trong làng cầu xin những điều tốt lành nhất.

Trong số trai gái trong làng có thằng con nhà giàu. Hắn quỳ rất lâu  trước tượng bà. Hắn không nói được lời nào. Hắn chỉ biết cầu xin bà tha thứ cho thói ngỗ ngược của hắn. Và thật không ngờ, vừa khấn nguyện xong, hắn không sao đứng lên được nữa. Toàn thân hắn bỗng lạnh toát. Và hắn biến thành đá ngay trước mặt tượng bà. Muôn đời hắn sẽ phải quỳ ở đó để xám hối .

Thế nên bây giờ trên núi Bà có một có một cái động. Cái động nằm ngay dưới chân tảng đá không lồ có dáng người đàn bà.Trong động được đặt một bức tượng nhỏ nhắn, xinh xắn, bằng đá đen. Xung quanh tượng có cả ngàn những viên đá lớn nhỏ có hình người, hình những con vật. Trước tượng bà có viên đá hình một người đàn ông đang qùy mọp. Rất ít khi có ai được vào trong động. Rồi cũng từ đó, không biết từ bao giờ, cứ đến tháng Giêng, người ở tứ xứ lại về đây cầu cạnh bà đủ mọi thứ trên đời.

Người ta đến cầu bà và cúng bà. Cầu bà không biết có được như cầu không, còn cúng thì đủ tiền để bây giờ quanh điện  bà còn có những ngôi chùa khác mọc lên. Bên cạnh tượng bà bây giờ có thêm Thích ca mâu ni, Phật bà quan âm, Phật Di lặc. Rồi còn có cả Quan thánh, hộ pháp, ông Thiện, ông Ác… Ngoài bà ra còn chán vạn thần tượng các để người người đến cầu, đến cúng.

 

*

*     *

Hai đứa trẻ từ khi biết nhau, mùa xuân nào cũng lên kiếm ăn trên núi. Chúng nhập vào đoàn quân ăn mày ngồi dọc con đường từ chân núi lên đến chùa bà. Thôi thì đủ mọi kiểu ăn mày. Người già tiều tụy trong bộ đồ như không thể rách hơn được nữa. Những người đàn bà rách rưới không kém và những đứa con quặt quẹo. Có người biểu những đứa trẻ ấy, ngày nào cũng phải uống một liều thuốc an thần. Chúng không thể ngóc đầu dậy được ít nhất vài tiếng trong ngày. Khi tỉnh lại, đứa nào, đứa ấy ngây ngô, ngu dại. Không có lấy một đứa nào có cái vẻ tinh khôi, láu lỉnh của một đứa trẻ con. Có người còn kể rằng những đứa trẻ ấy chẳng phải con ruột thịt gì với những người đàn bà kia. Hoặc là họ đến bệnh viện xin những đứa con hoang. Hoặc kiếm từ những mẹ mìn ăn cắp con của người ta mang bán. Nên chẳng có người đàn bà nào thương xót những đứa trẻ trên tay. Nhờ nó mà những lời khẩn cầu của mấy mẹ đàn bà đau xót hơn. Cứ như mấy mẹ than vãn thì bao nhiêu bất hạnh trên đời này trút hết lên đầu họ. Nào là thằng chồng vũ phu. Nào là thằng chồng bội tình. Rồi thằng chồng vợ này con kia. Có cả những thằng chết yểu, để lại một đứa con với người vợ nghèo bệnh tật. Cùng với những người đàn bà là những đứa trẻ. Không ai biết chúng từ đâu đến, đông vô kể. Mấy người mang bánh kẹo trái cây lên cúng chùa, chỉ kịp quay lưng thôi là không còn lấy một thứ gì. Không ai dám dây với chúng. Toàn là một lũ nặc nô. Chọc giận chúng chỉ có dại. Mà những người lên núi cúng toàn là những người đang muốn làm việc thiện, nên chúng có lấy đi đồ cúng thì cũng chỉ nhìn mà không nói lấy một câu nào. Bọn trẻ nhung nhúc như bầy ruồi lằn. Thôi thì đủ mọi kiểu. Thằng thì làm cho chân tay mình tróc ghẻ loang lổ xanh xanh, đỏ đỏ vì không biết chúng bôi bằng thứ thuốc gì. Thằng thì lấy đâu ra những cục bột dành để bó xương gãy. Chúng bọc lấy tay, lấy chân. Bọc chân thì có thêm cây tó. Bọc tay thì có cái băng treo lên. Những cục bột dùng đi, dùng lại, cáu bẩn thấy mà phát khiếp. Có thằng kiếm một cục thịt thối, bó vào chân, vào tay. Người ngợm lúc nào cũng thối rùm. Ngồi đâu là ruồi lằn bu lại đến đấy. Những thằng giả gãy chân, gãy tay thì ngồi một chỗ chìa chiếc nón cũng cáu bẩn như người chúng ra mà gào những lời thật thảm thiết. Còn những thằng đeo những cục thịt thối thì bám lấy khách hành hương. Chúng đeo lấy người ta, buộc người ta phải móc bóp ném tiền cho chúng. Có thể chẳng vì thương xót gì, mà chỉ mong chúng đi nhanh ra chỗ khác cho khỏi dây mùi hôi thối vào mình.

Hai đứa trẻ kia không làm như đồng bọn. Chúng lên núi kiếm việc giúp đỡ những người leo núi. Thằng nhỏ nhanh như một con chuột nhắt. Nó nhảy choi choi trên những viên đá trên đường lên núi. Xách dùm người này cái dỏ. Khoác giúp người kia bó bông. Cứ thế nó chuyền từ chân núi lên lưng chừng núi, rồi lại từ lưng chừng núi xuống chân núi. Nó không cần phải làm giá với những người nó mang vác giùm. Người ta khắc biết phải đưa cho thằng nhỏ bao nhiêu. Theo nó, đó là những đồng tiền sạch sẽ nhất mà nó kiếm được. Còn đứa con gái, sức vóc không cho phép nó làm những việc nặng nhọc. Nó đến những vựa nhang, mỗi ngày nhận chừng trăm bó, và bán dạo. Nó chạy theo bất cứ đoàn khách nào và chìa những bó nhang vào mặt người ta và mời chào tha thiết. Mua nhang đi ông, mua nhang đi bà, mua nhang đi chị. Nhang thơm, nhang thiêng. Thắp nhang này lên cầu gì được nấy. Giỏi ngày bán cũng được trăm bó. Dở cũng vài chục bó. Xét cho cùng, cũng còn hơn là phải lang thang trên hè phố chờ người ta bán đồ ế và chìa tay xin tiền ở dưới thị xã. Thằng nhỏ xuống đến chân núi lại gặp con nhỏ. Con nhỏ nhẩm tính bước chân leo núi để quay về đúng lúc thằng nhỏ xuống đến nơi. Bao giờ cũng đúng. Cả bọn lang thang bắt đầu ghép đôi hai đứa. Chúng chẳng màng gì đến những lời chọc dỡn, cứ xoắn lấy nhau mỗi ngày.                                                                                                                                                                                                                                                                                  

Một hôm, khi mùa hội tháng Giêng trên núi hết, chúng lại kéo nhau về thị xã. Một ngày chen chúc trong các chợ, lang thang trên đường và luồn lách qua các ngõ xóm qua đi . Thêm mấy giờ đồng hồ nữa ngồi xé những bọc mủ cao su, giặt sạch mang phơi. Chúng lại kéo nhau nhảy xuống rạch Tây Nam tắm gội. Vẫn một bầy trẻ nghèo và vô tư. Nước rạch Tây Nam như xoá hết những nhọc nhằn của những kẻ lang thang. Bầy nhỏ kia đã leo hết lên bờ đi kiếm cái bỏ vào bụng. Chỉ còn hai đứa dưới rạch. Thằng nhỏ kêu con nhỏ đến nhờ kỳ cọ giùm nó cái lưng. Bàn tay con nhỏ mềm mại thế. Nó vuốt đến đâu, thằng nhỏ râm ran thích. Bỗng con nhỏ ngắm thực lâu gương mặt thằng nhỏ:

- Ê. Hình như dạo này mày khác ngày xưa…

Con nhỏ biểu thằng nhỏ như thế. Thằng nhỏ cãi:

- Khác cái gì mà khác. Tao có thấy cái gì khác đâu.

- Khác thiệt mà. Mày mọc lông ở trên môi kìa.

Thằng nhỏ đưa tay lên. Nó lại cãi:

- Sao lại là lông. Râu đó. Đàn ông phải có râu chớ.

Nghĩ một hồi, nó biểu con nhỏ:

- Ê mày. Dưới này tao cũng mọc lông nữa mày ơi…

- Đâu?

Thằng nhỏ trồi nửa thân dưới nó lên khỏi mặt nước. Con bé cúi xuống nhìn. Nó bỗng đỏ bừng mặt, lội ào ào vào bờ, lấy cái quần tròng vội vào. Nó cũng thế không khác thằng nhỏ. Nhưng nó không dám khoe. Đêm ấy đứa con gái không còn dám buông tuồng ngủ chung với tụi con trai trên vỉa hè trước cửa hàng bách hoá tổng hợp nữa. Nó không ngủ được. Mặt nó cứ nóng rần rần khi nhớ lại lúc ở dưới con rạch. Ơ hay có gì đâu mà cứ nóng mặt, nóng mày thế này chớ. Trời lạnh. Nó lùa tay xuống dưới hai bắp vế, kẹp cả hai tay giữa khe đùi. Những ngày trước, nó cũng từng làm như thế mà. Nhưng những ngày trước chẳng có cái gì làm cho nó phải băn khoăn. Còn hôm nay, nó đụng đến chính nó.

Đúng lúc khi không ngủ được thì nó thấy thằng kia lại gần. Nó nằm ngay xuống cạnh con nhỏ.

- Lạnh qúa, mày ơi. Mày cho tao ôm mày ngủ cho ấm được không.

Nó nằm xích ra cho thằng nhỏ nằm xuống bên cạnh. Ngoài kia, trời đỏ quạch vì mấy ngọn đèn đường chiếu yếu ớt. Thằng nhỏ vừa nằm xuống vừa nó huyên thuyên:

- Tao nghe nói người nghèo ở xứ lạnh lúc lạnh quá phải thuê chó ôm nằm ngủ đó mày.

            Đứa con gái nhấm nhẳn:

            - Sao mày không thuê chó mà ôm. Hôi rình như mày chỉ đáng ôm chó thôi.

            - Ê chọc giận nghe. Tao đang ôm mày nè. Không lẽ mày là…

            - Thôi ngủ đi . Mệt…

Nhưng chẳng đứa nào ngủ được. Không hiểu sao hôm đó trời lại lạnh thế. Da thịt chúng cứ thắt lại vì lạnh. Chúng nó biết nhau từ hồi nào chẳng hơi đâu chúng nhớ. Cha mẹ chúng ở đâu chúng cũng không biết. Sinh ra ở đời này lúc nào chúng cũng không hay. Chỉ biết khi gặp nhau, mỗi đứa cũng đã trải không biết bao nhiêu ngày xin ăn. Cả hai đứa đã từng xoè bàn tay nhỏ xíu ra để nhận được những đồng xu lẻ của những người cám cảnh cho số phận của chúng. Có một cái chợ chiều mọc lên ngay khu động mả. Chỗ ấy có một khoảng đất còn rộng. Những người bán buôn nhỏ, không kiếm được chỗ ngồi ở chợ thị xã nên đã chọn chỗ này bán vớt vát vài mớ rau, vài con cá, ít thịt heo cho những người đi làm về lúc cuối ngày. Chỗ của hai đứa nhỏ là ở đó. Chúng xin ăn ở đó, và tối đến thì vạ vật ngủ ở những ngôi mộ có lớp gạch phẳng và có mái che. Với chúng nó thế là đủ. Có cái ăn vào miệng. Có chỗ nằm ngả lưng, có cái che sương, che gió và ngủ ngon. Chúng chưa đủ sức để mà mơ ước. Nhưng rồi cái chợ ở động mả lớn phình ra. Người ta dọn hết mồ mả đi làm thành cái chợ mới, nên chúng phải ra ngủ vạ vật ở vỉa hè ngã tư thị xã. Hai đứa cứ thế mà sống cho đến tận đêm nay. Chúng đã từng ôm nhau ngủ không biết bao nhiêu đêm. Chúng không khái niệm được sự phân biệt giữa con gái và con trai. Hai thân xác lưu lạc đã sưởi ấm nhau không biết bao nhiêu đêm rồi. Nên có thêm đêm nay cũng có gì đáng phải nói đến.

Thế  nhưng, những đêm trước khác, còn đêm nay lại khác. Bỗng nhiên cả hai đứa cùng thấy khó ngủ. Ban đầu thì chúng đổ tại trời lạnh. Nhưng kể cả khi hai đứa cùng ấm lên rồi. Chúng cũng không ngủ được. Bàn tay của thằng nhỏ bỗng đụng đến một khối u ngay ngực con ngỏ. Nó thấy lạ đưa tay hẳn vào trong lần áo của con nhỏ. Con nhỏ ban đầu đẩy tay thằng nhỏ ra vì nhột. Thằng nhỏ tò mò càng ấn mạnh tay vào trong. Bàn tay nó thấy ngay một bầu nóng ấm và nó không muốn bỏ tay ra nữa. Còn con nhỏ, khi quen với bàn tay thằng nhỏ rồi, nó bỗng thấy đầu óc rỗng tuếch, chẳng còn nghĩ được gì nữa. Nó không hiểu được cái gì đang diễn ra trên cơ thể. Chỉ thấy râm ran, rạo rực. Và nó cứ muốn bàn tay của thằng nhỏ thô bạo hơn. Chẳng cần con bé phải thôi thúc. Thằng nhỏ cũng biết cách để làm cho mình thỏa chí tò mò. Chúng cứ lúng túng, lùng tùng trong chiếc mền rách trên vỉa hè cho đến gần sáng. Phải ở trên đời này có chúa không? Chắc là phải có. Vì nếu không có thì làm sao chúng lại biết làm những chuyện dành cho những kẻ muốn truyền giống nòi cho mai sau. Ông A dong, bà E va, chắc cũng như đứa trẻ đêm nay thôi. Chúa đã sinh ra mọi thứ, thì thứ gì cũng có công dụng của nó. Chiếc mền rách đắp chung của hai đứa lúc phồng, lúc tẹt. Miệng chúng không muốn hấm hứ, cũng không được. Chân tay chúng không thể để yên. Đứa nọ, giúp đứa kia, hì hục như thợ đấu vật đất. Những tiếng thở hắt ra cùng với những tiếng rên rỉ như  mèo con được ve vuốt. Rồi bỗng nhiên con bé la lên. Thằng nhỏ hoảng quá bịt miệng nó lại. Nó sợ đám bụi đời gần đó, chạy đến can thiệp. Cái mền mà tung ra thì chết. Có đứa nào còn mảnh vải trên người đâu. Khi những người đầu tiên đến mở cửa bách hoá cho một ngày buôn bán mới, thì hai đứa đã xong cái trò nghịch phá nhau. Khi ngồi dậy chuẩn bị một ngày mới cầu bơ, cầu bất trên những hố rác. chúng bỗng thấy ngượng ngùng. Suốt một ngày ấy chúng không dám nhìn vào mặt nhau, không dám nói chuyện với nhau. Chúng cứ lẳng lặng với công việc cho đến khi bà mua ve chai đến nhận xong những cái bịch mủ mà chúng luợm ve. Thì ra thành người lớn sao mà khó thế.

Khi tối xuống, thằng nhỏ bất giác chửi thề:

- Đ. má.  Làm cái gì là câm như hến thế. Mày nói cái gì đi chớ…

Con nhỏ :

- Tại mày dó.

Thằng nhỏ:

- Tại cả tao cả mày. Ai biểu mày cứ …

Con nhỏ:

- Thì mọi khi nằm ngủ chung, mày có làm thế đâu… chỉ tao là khổ thôi. Mày biết không?

- Khổ cái đ. gì mà khổ. Cần thì nhảy mẹ nó xuống rạch Tây Nam, chết chung. Có gì mà khổ… Mà mày làm gì rên khổ… Khổ từ ngày nào đến giờ, có sướng ngày nào đâu. Chỉ được mỗi đêm qua là sướng mà mày còn than…

- Má… mày còn nhắc lại làm gì nữa. Mày có biết mày làm thế là gì không?

- Biết quái đâu được. Sao lúc đó mà không hất mẹ nó ra. Cứ nằm im để bây giờ rên.

- Tao không rên chuyện hôm qua nữa đâu. Mà chuyện khác kìa.

- Chuyện khác là chuyện gì ?

- Mày không biết mày làm như thế rồi tao có bầu thì sao?

- Có bầu?

- Chớ sao.

- Mày khéo lo. Bầu bì gì chớ… Ủa, chết cha. Phải rồi. Bây giờ làm sao đây. Sao mày không nói ngay. Cứ ỡm ờ, ỡm ờ hoài. Chết cha tao rồi…

- Mày chết, chớ có cha đâu mà chết. Mà chết tao nè. Tao với mày đã không cha, không mẹ. Không lẽ bây giờ lại phải có một đứa nhỏ không cha, không mẹ nữa hay sao. Mày có tính bỏ …

- Bỏ gì?

- Con chớ gì nữa

- Làm thế có con hả mày…

Tội nghiệp hai đứa nít ranh, chưa kịp lớn. Chúng làm tình với nhau mà tưởng như một thứ trò chơi vậy. Thì cũng bởi tạo hoá. Chúng nó vô can. Sinh ra con đực, con cái để chúng tự nhiên làm chuyện đó chớ chúng nó có ý thức gì đâu. Nhưng tạo hoá cũng công bằng lắm. Làm chuyện ấy xong, bắt chúng nó phải lớn lên tức thì. Thằng nhỏ thấy mình không nhỏ nữa. Con nhỏ cũng thấy mình không còn ngây thơ nữa. Sau đêm, nó bỗng thấy mình lớn hẳn lên. Từ trong nó thức dậy bản năng mà người con gái nào cũng có.

Một đêm nữa chúng ngồi bên nhau. Chúng không thể cứ ở mãi vỉa hè như thế này được. Càng không thể hằng ngày trôi nổi trên đường của kiếp lang thang. Chúng mới quyết định bỏ phố lên rừng. Chính vì thế mà chúng đến làm nhà bên miễu của thằng ăn mày. Chúng biểu nhau: “Thân kiếp chẳng khác gì ăn mày. Nay có miễu thờ, cứ coi là miễu thờ tổ đi. Biết đâu chẳng ăn nên làm ra. ”

Trước khi cất cái chòi bên cái miễu, thằng nhỏ cũng làm một mâm cơm mang sang cái miễu. Trong mâm chẳng có gì ngoài miếng đậu hũ kho thơm. Tô canh rau bợ và chén cơm. Chén cơm có được nhờ con nhỏ đi mót lúa mà có. Thằng nhỏ thắp nhang khấn:

- Thưa ông. Con là thằng Hai Cu. Không phải con lếu láo gì với ông. Là từ khi con biết con là người đến giờ lũ ăn mày kêu con vậy thì con có tên như vậy thôi. Còn nhỏ ngồi kế bên con này nó là con Gái. Dạ, biết sao được , ngay cả ông cũng còn không có tên, người ta còn gọi ông là thằng ăn mày kia mà. Hai đứa con có cái để mà gọi thế cũng là hơn được ông rồi. Nay con về đây tá túc gần ông. Ông có thiêng thì phù hộ cho những kẻ cùng kiếp ăn mày. Chúng con khổ qúa rồi mới về đến đây. Về đây con chẳng ăn mày được ai thì con ăn mày vía của ông vậy.

Nó qùy xuống lạy bảy lạy, kêu con nhỏ lại lạy đủ chín lạy. Cái chòi của chúng cất lên chẳng khó khăn gì. Mấy cái cây bằng cườm chân. Cỏ tranh cắt ngoài rẫy. Xin rơm ngào đất, chét lên làm vách. Chẳng tốn đồng nào.

( còn nữa)

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

20 May, 2011

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM- tiểu thuyết của NGUYỄN ĐỨC THIỆN ( Tiếp theo)

TRƯỚC LÚC LÀNG CHÌM

Tiểu thuyết của

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Lấy nước làm sạch

( tục ngữ )

alt

            Mới đó mà đã gần mười năm làm vợ. Bà không cần biết ông bao nhiêu tuổi . Bà chụp được ông nhanh hơn bà tưởng. Đã có lần bà muốn dâng hiến cái bà có cho một người. Người ấy là một anh nuôi trong cứ. Anh ta là một nông dân chính hiệu. Ban đầu anh ta cũng tham gia lực lượng vũ trang huyện, nhưng thực không may trong một trận đánh anh bị thương. Sau khi điều trị, huyện ủy giữ anh lại cứ làm anh nuôi. Mỗi lần xuống bếp là mỗi lần bà tìm cách gặp anh ta. Lúc nào cũng thấy anh ta cởi trần trùng trục. Chỉ một chiếc xà lỏn trên người. Những múi thịt vâm váp trên mình anh ta khiến bà mê mệt. Hôm ấy trăng sáng. Bà tìm đến hầm anh ta. Cũng tại đêm ấy bà lại thèm khát. Bà đã cắn răng làm hết mọi cách mà không sao dừng lại được. Anh ta thấy bà đến thì ngạc nhiên. Ánh mắt bà lúc đó chắc là long lanh lắm. Khi nghe bà rủ ra bờ sông ngắm trăng anh chàng cũng không từ chối. Họ ngồi bên nhau trên một vạt cỏ dưới trăng. Ánh trăng nhễ nhại. Sương rơi mát lạnh bờ vai. Bà run lên, ngả đầu vào vai anh chàng. Anh chàng khẽ đẩy bà ra. Nhưng bà lại hiểu ngược lại. Bà dang rộng vòng tay ôm lấy anh ta. Lần này thì anh ta hoảng. Miệng anh ta lắp bắp nói chẳng nên lời. Bà lại ngỡ anh đang xúc động, đang khao khát như bà. Bà hôn anh ta say đắm. Bà lùa tay xuống. Thì hỡi ơi. Nơi đó trống trơn. Bà kinh hoàng bỏ chạy. Anh ta không phải là đàn ông. Bà đâu có biết, anh chàng đã ngồi lại bờ sông khóc tức tưởi. Mảnh đạn quái ác đã tiện cụt cái thứ mà bà cần rồi. Một tháng bà không xuống bếp ăn. Một tháng bà mắc cỡ không dám gặp ai. Rồi bà hay tin, ngay sau cái đêm trăng sáng kia, anh chàng đã xin bằng được xuống đơn vị chiến đấu. Cũng từ đó, bà sợ ánh trăng. Bà tưởng như trăng đã thấy hết được chuyện cắc cớ của bà.

            Anh bí thư huyện ủy hỏi bà: anh ấy tính lấy bà làm vợ , bà có đồng ý không. Bà cười bẽn lãn. Cười bẽn lẽn là đồng ý rồi. Một thời gian sau một đám cưới rất đơn giản đã diễn ra. Mấy bình trà, mấy cái kẹo. Mấy tấm giấy có dán chữ: vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Có mấy cô, mấy cậu trẻ tuổi vác cây đàn ghi ta đến hát mừng. Mấy bản tân nhạc, mấy bản cổ nhạc. Đến khuya. Người ta lấy đám cưới của ông bà tạo cớ mà vui. Còn bà thì sốt ruột chỉ mong mọi người sơm sớm về cho. Căn hầm của mấy chị em văn phòng đã dọn dẹp lại thành phòng hạnh phúc cho hai người. Mấy cái sạp nằm đã chuyển đi nơi khác. Cái sạp nằm của bà được chị em phụ nới rộng thêm ra. Rồi cuối cùng cũng đến lúc chỉ có hai người. Từ hôm ở dưới hầm bí mật đến hôm cưới cả tháng trời. Cả tháng trời bà mong ngày này. Lần này thì chẳng cần phải giữ gìn gì nữa. Nếu trên trời hôm đó không có tiếng máy bay trinh thám của địch, nếu xa xa không có những tiếng nổ ùng oàng. Nếu lâu lâu không có những chùm pháo sáng làm sáng rực góc trời nào đó, thì đêm ấy là đêm tuyệt nhất trong đời bà. Cả hai không ngủ suốt đêm. Họ xoay trở nhau cho đến lúc không còn sức mà xoay trở nữa mới thôi.

            Chỉ ở với nhau được ba ngày. Ông lại lên căn cứ phía bắc tỉnh. Bà ở lại căn cứ phía nam tỉnh. Lâu lâu, bà lại cất gánh lên thăm ông. Lâu lâu ông cõng ba lô về gặp bà. Hai người hai đầu, lâu lâu mới gặp nhau vì thế lần nào cũng còn như mới. Họ cứ quấn lấy nhau như sam, mỗi lần gặp gỡ. Và rồi những đứa con ra đời. Đứa thứ nhất con trai, rồi đứa thứ hai con gái, trong vòng chưa đầy ba năm. Bà xin nghỉ ra cất nhà ở một góc rừng ven sông Sài Gòn. Lý do hoàn toàn chính đáng. Bây giờ bà chỉ còn có việc phát rẫy trỉa lúa, nuôi con lớn lên và chờ đợi ông về.

            Hết chiến tranh vẫn vậy. Ông làm việc huyện Cái Bưng. Bà về quê, dựng nhà nuôi con chờ chồng. Và vẫn như ngày nào, vẫn như ngày xưa…ông về là mang về niềm say mê cho bà. Nên bà cứ tủm tỉm cười, vừa làm việc, vừa mong trời sớm tối.

            Rồi trời cũng tối. Những người có trong danh sách ông lập giao cho cậu chánh văn phòng điện mời lần lượt đến nhà ông. Cậu trưởng ban xây dựng, người báo cáo dự án quy hoạch hồ nước Sông Tràm. Cậu trưởng ban tổ chức huyện ủy. Cậu trưởng công an huyện. Cậu phò chủ tịch huyện. Thêm cậu huyện đội trưởng. Cuối cùng không thiếu cậu chánh văn phòng. Chưa bao giờ họ được gọi đến nhà ông bí thư huyện ủy như thế này. Với họ đây là một điều khá đặc biệt, khiến họ có một cái gì đó không yên tâm trừ cậu chánh văn phòng. Mâm rượu được bày ra. Những người đến dự mâm tiệc có cảm giác được dự một bữa tiệc vua ban. Bình thường đến gần được Bảy Thiệt đã khó. Người ta ít dám gần ông không phải vì ông khó tính, mà họ ngại những bài thuyết giảng của ông. Những bài thuyết giảng đầy ắp những lý sự, khó tiếp thu nhưng trước mặt ông cứ phải làm như đã được cải tạo tư tưởng. Nhưng hôm nay không đến không được. Ông mời đích danh từng người, chối làm sao được. Ông cầm ly rượu lên:

            - Hôm nay tôi mời các đồng chí đến đây, đương nhiên là phải có công việc. Nhưng trước khi vào công việc đề nghị các đồng chí uống với tôi một ly rượu này.

            Chiếc ly truyền tay nhau cho đến hết vòng. Rượu trong miệng ai cũng đắng nghét. Ông tiếp:

            - Các đồng chí đều biết tôi là người phản đối xây dựng hồ nước Sông Tràm. Phản đối vì ai, các đồng chí biết rồi: vì nhân dân. Các đồng chí thử hình dung xem, khi công trình mở ra, không chỉ mất đất đai sản xuất của nhân dân. Chúng ta còn mất rừng. Người dân lại phải lao động khó nhọc mà kết quả còn ở đâu xa lơ, xa lắc. Tôi không muốn như vậy. Vì thế tôi mới mời các đồng chí đến đây để tìm cho được người đồng cảm. Ngày mai tôi sẽ lên tỉnh gặp đồng chí bí thư tỉnh ủy để khiếu nại về chuyện xây dựng hồ nước Sông Tràm.

            Những người ngồi nghe im phắng phắc, chiếc ly quay vòng ngưng lại từ vòng đầu tiên. Mâm nhậu còn đầy nguyên. Họ biết, họ đang bị đẩy vào thế kẹt khó nói. Nhưng dù không nói cũng phải nghe

 

II

Giữa làng Bàu Cày có một cái bàu. Giữa bàu có một cây  cày , gần cây cày có một cái miễu.

Nghe đồn rằng miễu này không thờ ông thành hoàng của làng mà thờ một kẻ ăn mày chết cách đây từ hồi nào đến giờ không ai biết. Cái miễu giống như một cái quán nhỏ. Nó được cất bằng bốn cây cột lục. Cây nào cũng lớn tới hai chét tay. Những cây gỗ đã trơ lõi. Những con mối, con mọt hình như đã nhiều lần tìm cách tấn công những cây cột ấy, nhưng chúng chỉ để lại trên thân những cây cột vài nốt rỗ, hoặc vài đường vân ngoằn nghoèo, thưa thớt. Bốn cây cột ấy đỡ lấy một mái nhà thấp chủm. Muốn ra vào miễu phải cúi đầu xuống. Ai cao cao một chút vào trong miễu không dám đứng vì  sợ đội cả cái nóc miễu lên. Trong miễu có một cái bàn thờ bằng gỗ. Trên đó những đồ thờ cúng đều bằng đất. Một cái lư hương đất nung. Nhìn cũng biết cái lư được làm từ bàn tay của một người thợ vụng. Tròn tròn như một cái nồi đất, hai bên cũng có hai cái quai. Phần tròn kia không tròn chút nào, nó méo mó, vẹo vọ và còn hằn cả dấu tay của thợ. Hai cái quai giống như được gắn bằng hai cục đất ấn cho dẹp lại. Hình như người làm ra cái lư hương này cũng muốn biến hai cục đất đó thành hai cái đầu lân, nhưng không thành nên nó chỉ còn là hai cục đất với hai cái khe tiện cho việc lựa bàn tay mà bưng cái lư ra chỗ khác. Cạnh đó, có lẽ là hai cái chân đèn cầy. Người tạo ra nó cố tình nặn cho nó cao lên , trên có hai cái lỗ tròn có thể đặt vào đó cây đèn cầy. Hình như cũng đã có những lần người ta đặt vào đó những cây đèn cầy thực. Những giọt sáp nhểu ra còn dính ở bên cạnh. Có lẽ không mấy người đến cúng tế ở đây. Kẻ ăn mày tứ cố vô thân nào đó chết thì có liên quan gì đến dân ở đây để buộc họ phải thờ cúng? Chuyện kể về gã như sau:

Ngày xưa, ở cái làng Bàu Cày này có một kẻ ăn mày. Kẻ ăn mày không què quặt, không mù loà, không điếc lác. Hắn cũng giống như bất cứ người nào khác. Quần áo ai cho cái gì mặc cái đó. Nên lúc thì chật căng, lúc thì rộng thùng thình, những mảnh vải thực hiện đúng công việc của nó là che đậy một tấm thân con người hắn. Người xứ khác đến đây rất có thể nhầm, tưởng hắn là một lực điền. Hắn to khoẻ và đi đứng đường bệ. Lâu lâu, ông thợ cắt tóc lại về làng. Sau khi dọn dẹp tất cả những cái đầu từ ông già đến con nít trong làng xong là đến lượt hắn. Ông chỉ chừa cho hắn một nhúm tóc ở trước trán che đậy đủ phần thóp, còn thì ông cắt hết. Khi cắt tóc xong, hắn thành một chàng trai rất bảnh. Lông mày rậm, cặp mắt rầu rầu buồn nhưng bù vào là cái miệng luôn cười. Đó là cái thực khác của hắn so với người bình thường. Lúc nào hắn cũng cười. Hắn cười một mình. Miệng lúc nào cũng tủm tỉm, giống như đang có cái gì đang làm hắn đắc ý. Hắn ăn mày, nhưng không xòe tay xin ai. Hắn muốn ăn, thì đến bên cái quán nhỏ bán bánh canh ở đầu làng, đứng nhìn chăm chắm vào bàn tay bà chủ quán. Bà chủ hiểu ý, lấy ra một cái tô riêng. Miệng tô nham nhở như cóc gặm, bốc vào đó một bốc bánh canh. Chan vào đó một ít nước lèo. Hôm nào vui bà cho hắn thêm vài miếng thịt vụn. Hôm nào có chuyện  không được như ý bà thì chỉ có bánh canh không. Hắn dơ bàn tay đón tô bánh canh lễ phép lắm. Khi có tô bánh canh trong tay rồi, hắn tìm một góc riêng biệt, ngồi húp xì xoạp. Húp xong, hắn ra ngoài giếng, múc nước rửa sạnh cái tô mới mang về trả cho bà chủ quán. Có lẽ hắn biết đó là cái tô riêng của hắn để có bữa ăn hằng ngày. Người trong làng không thấy ai phàn nàn gì về hắn. Nhưng người ta không hiểu được vì sao hắn ra như vậy. Thậm chí người ta không biết hắn từ đâu tới. Thường thì những người như hắn phải chọn nơi phố xá đông vui . Đằng này, hắn lại chọn một vùng quê hẻo lánh này để sống. Lâu lâu, có người kêu hắn giúp việc nhà. Hắn làm việc say sưa lắm. Bất cứ việc gì. Những gốc cây củ mỳ theo tay hắn bật tung lên. Những ngày đó, hắn được những nhà chủ cho ăn cơm. Những tô cơm thực đầy. Những hạt cơm thực nóng. Những món ăn trong tô cơm với hắn toàn là thứ khoái khẩu. Kể cả những con khô mắm, những trái dưa leo, nước  mắm chua ngọt… Mấy khi hắn được ăn như vậy. Hắn làm cật lực nên những nhà chủ không tiếc gì hắn hết. Hắn có thể ăn vài ba tô, mặc sức. Ăn xong, hắn lăn ngay cạnh mâm cơm, đánh một giấc dài. Lát sau, tỉnh giấc, không nói không rằng ra rẫy và những củ mì lại bật lên. Nhưng hình như hắn không thích làm việc. Hắn làm chừng mươi ngày là bỏ. Tiền với hắn không quan trọng. Hắn đến làm việc cho người ta mà giống như đi làm công quả. Làm xong rồi bỏ đi, không hé răng đòi tiền công. Nhà chủ có người tốt bụng chạy theo dúi tiền vào tay hắn. Có nhà làm lơ, quên.

Mà hắn chẳng biết dùng tiền vào việc gì thực. Hắn mang tất cả những đồng tiền ra đưa cho bà bán bánh canh ở đầu làng. Có lẽ vì thế bà bán bánh canh ngày nào cũng lo bữa ăn cho hắn mà ít khi phàn nàn, trừ khi bà có chuyện bực dọc trong người. 

Bỗng một hôm người trong làng không còn thấy hắn đâu nữa. Ba ngày sau, thấy quạ kêu rầm trời ở cái bàu giữa làng. Người ta đổ xô ra coi. Ở đấy đùn lên một đống như đống mối. Chỉ còn thấy hai cái chân thò ra. Nhiều người bảo, hai chân ấy của thằng ăn mày, thằng điên điên khùng khùng. Không ai có gan đụng đến cái đống đất kia. Mấy người đạo tỳ chạy về , lấy mấy cái cuốc, cái xẻng, đào đất xung quanh, đắp lại cho kín. Đắp xong, ai dè, cái mộ của thằng ăn mày quá lớn. Lớn hơn bất cứ ngôi mộ nào ở trong làng này.

Cái Bàu trở thành hoang vắng một thời gian rất dài. Không ai dám ra ngoài đó cấy hái. Người ta đồn đại không biết bao nhiêu chuyện về cái mả của thằng ăn mày. Toàn là những chuyện khủng khiếp không. Có người đoan chắc là nửa đêm ngoài ấy có một bóng trắng bay lên, lượn lờ, lượn lờ. Bóng trắng bay về cái quán của bà bán bánh canh. Thì là thằng ăn mày chớ còn ai nữa. Nó đến ăn hàng của bà bán bánh canh hằng ngày mà. Khi chết, nó không được no, nên bay về đó kiếm bà chủ quán. Lời đồn làm bà chủ quán hoảng đến mấy tháng trời. Mỗi sáng, trước khi bán tô bánh canh đầu tiên, bao giờ bà cũng làm một tô riêng, đặt ở chỗ thằng ăn mày vẫn ngồi ngày trước, thắp lên đó một nén nhang, lẩm nhẩm khấn vái một hồi. Chỉ khác, ngày xưa thằng ăn mày được bà cho ăn bằng cái tô mẻ. Còn bây giờ, cũng một tô riêng, nhưng tô mới, có những vân hoa hẳn hòi. Có người kể rằng, nửa đêm vẫn thấy thằng ăn mày lang thang trong làng. Thực khuya, lúc cả làng đã ngon giấc thằng ăn mày mới hiện ra. Nó vật vờ đi  không ra đi, bay không ra bay, chân không bén đất. Thấy nó, lũ chó trong làng lẩn vào nhà, nằm nín thít, không dám hó hé.

Nhiều người trong làng nghe chuyện thì hoảng lên, bèn xúm nhau cất cái miễu cho thằng ăn mày ngay gần chỗ nó đã chết.

Nhưng bàu không thể để hoang mãi  được. Thằng ăn mày chết có thể làm cho người ta hoảng một thời gian. Rồi người ta cũng quên đi dần. Đã có người bạo gan mang trâu ra cày.

Ấy là chuyện người ta truyền tụng lại như vậy. Đã bao nhiêu đời con cháu làng Bàu Cày này truyền giống nòi để có lớp người Bàu Cày hôm nay. Cái miễu hoang kia, bây giờ đã tàn tạ như trên đã kể , chắc chẳng linh thiêng là bao nhiêu nữa. Cạnh đó là một ụ đất. Ụ mối hay mả thằng ăn mày nào ai biết.

Người nào vô tâm mới tin chuyện đó. Làm quái gì có ngày xưa ở cái làng Bàu Cày này. Cái Bàu nằm giữa khu rừng bạt ngàn có từ bao giờ thì không ai biết. Còn làng thì mới thành lập cách nay chừng hơn hai chục năm chớ mấy. Toàn là dân chạy chiến tranh lên rừng lập làng. Nhiều lắm cứ coi là được một thế hệ đi. Thì cũng chỉ là làng non, làng mới.  Làm quái gì có bà bán bánh canh ở đầu làng. Làm gì có nhiều mía mỳ cho thằng ăn mày đi nhổ không lấy tiền công. Có chuyện thằng ăn mày chết hay không, chuyện ai là người lập miễu đố có ai biết. Mà ngay cả cái mả thằng ăn mày hồi đó biểu nó lớn lắm kia mà sao bây giờ chỉ thấy cái miễu với một cái ụ đất con con. Xem ra, đống đất bên cái miễu rõ ràng là một tổ mối chớ đâu phải là cái mả. Nhưng mặc kệ, người làng Bày Cày cứ coi như chuyện đó là có thực. Giữa bàu có một cái miễu bỏ hoang với chuyện như vậy để lòe thiên hạ chơi, để nói với thiên hạ đất này cũng có những chuyện như cổ tích vậy thôi. Đúng là đất nghèo đẻ ra chuyện cũng nghèo vậy. Chỉ biết rằng nơi này hoang vắng lắm. Hoang vắng như đất có ma vậy.

Thế mà bỗng nhiên cách đây ít năm lại có người đến ngay gần cái miễu hoang kia làm chòi để ở. Đó là hai vợ chồng còn rất trẻ. Người chồng thoạt trông thấy rất vất vả. Còm róm èo uột như cái dải khoai. Hai mắt lộ ra ngoài dưới cặp chân mày bên rậm, bên lưa thưa. Người vợ nếu không phải nước da đen đúa, thì cũng xinh xắn. Mái tóc bị nắng đốt vàng khè dưới đuôi. Nhưng phần trên còn đen nhánh. Cô bé có một bên lúm đồng tiền làm cho nụ cười cũng có duyên. Hai vợ chồng chọn cạnh cái miễu làm nhà ở chẳng xin phép ai. Ông chủ tịch xã cho người ra hỏi han mấy lần. Nhưng thấy gia cảnh của hai người cũng tội, nên biểu: thôi cứ ở, đừng phá làng phá xóm là được. Nhưng gia cảnh tội là sao chớ? Theo như anh chồng kể thì cha mẹ anh đã chết hết từ hồi nào. Lớn lên đã thấy mình lang thang trên đường, sống bờ, sống bụi. Anh ta chẳng biết mình bú vú ai mà thành người. Mình ăn cơm ai mà lớn lên. Cô gái vợ anh ta cũng vậy. Cũng sống lang thang ngay từ hồi còn nhỏ. Cũng là cô ta kể như vậy. Chúng sống vật vờ ngoài thị xã Tây Nam từ trước ngày giải phóng. Giải phóng rồi còn bao nhiêu chuyện phải làm, chưa ai ngó ngàng gì đến lớp trẻ bụi đời nên chúng vẫn cứ lang thang trên hè phố, góc chợ và bên những nơi đổ rác. Sáng đi lượm ba thứ ve chai, bọc mủ, tối về của đứa nào, đứa ấy lựa, gom lại thành một đống kêu mấy bà mua bán ve chai đến bán. Bà mua ve chai  có một cái cân bàn nhỏ xíu. Bịch mủ thì nhẹ, chất cả chục lần mới xong được mấy cái bọc của sắp nhỏ. Sướng nhất là hôm nào lượm được mấy cái chai không, mấy mảnh kiếng bể và mấy cái hộp lon người ta quăng ra. Không nhiều những thứ đó đâu. Lúc đó mọi thứ còn phân phối, người ta tận dụng hết thảy để phục vụ cho cuộc sống con người, lấy đâu ra đồ dư mà thảy ra. Chẳng biết bằng những cách nào, mà cả một bày trẻ lang thang sống được. Ngày nào cũng có chén cơm vô bụng. Không cơm thì bánh mỳ. Không bánh mỳ thì cũng bánh bao. Có điều bánh mỳ thì dai ngoách. Bánh bao thì nguôi ngơ. Toàn là những thứ rẻ tiền, người bán, bán  không được mới kêu chúng đến mà bán như cho vậy.

Hai đứa gặp nhau trên đường phố từ lúc còn có thể trần truồng nhảy xuống rạch Tây Nam mà tắm. Cũng là trong lúc vui chuyện khi đi làm thuê chúng kể ra như vậy. Nghe chúng kể người trong làng cười rần. Thế chúng mày có làm gì nhau lúc đó không? Có người hỏi như vậy. Làm cái quái gì được. Nước rạch Tây Nam mát vì nhiều phù sa, chỉ làm chúng thích thú khi đằm mình xuống đó thôi. Có nghĩ gì đâu. Cô gái kể. Phải đến lúc chúng đi kiếm ăn trên núi  Điện Bà.

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

( Còn nữa)